vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N về việc xin ly hôn; cho chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Phùng Ngọc H.

Về con chung: Chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H có 02 con chung là Phùng Thị Minh H, sinh ngày 27/5/2011 và Phùng Gia B, sinh ngày 23/10/2016. Sau khi ly hôn, giao cháu là Phùng Thị Minh H và Phùng Gia B cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phùng Ngọc H chưa phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị N - Phùng Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N về việc xin ly hôn; cho chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Phùng Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày 06-6-2022.
V/v tranh chấp Ly hôn giữa
chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Sơn. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Ơn

2. Ông Bùi Văn Thiệu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 08/2022/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2022 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1982. Địa chỉ: xóm Đ, xã X, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Phùng Ngọc H, sinh năm 1979. Địa chỉ: xóm Đ, xã X, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Bùi Thị N trình bày: chị và anh Phùng Ngọc H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ngày 09/5/2015. Cuộc sống chung sau khi kết hôn giữa hai vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng về sau vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Phùng Ngọc H không có trách nhiệm với vợ con, không có trách nhiệm với gia đình, không chu cấp tiền nuôi con ăn học. Chị Bùi Thị N đã cố gắng khuyên can nhưng không được. Vợ chồng đã sống ly thân nhau và quá trình sống ly thân vợ chồng cũng không quan tâm đến nhau. Nay chị Bùi Thị N thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùng Ngọc H. Về con chung: chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H có 02 con chung là Phùng Thị Minh H, sinh ngày 27/5/2011 và Phùng Gia B, sinh ngày 23/10/2016. Hiện nay các con chung đang ở với chị Bùi Thị N. Khi ly hôn, chị Bùi Thị N nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và chưa có yêu cầu anh Phùng Ngọc H đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: chị Bùi Thị N khai là không có.

Về phía anh Phùng Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ nơi cư trú của anh Phùng Ngọc H thể hiện anh Phùng Ngọc H có địa chỉ rõ ràng; có đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa chỉ chị Bùi Thị N đã cung cấp cho Tòa án nhưng thường xuyên vắng mặt tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, không ở một địa chỉ ổn định nên không lấy được ý kiến của anh Phùng Ngọc H. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét.

Kết quả Tòa án xác minh, thể hiện: chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H hiện sống ly thân nhau; anh Phùng Ngọc H thường xuyên có mặt tại nơi cư trú do đi làm ăn xa, không ở một nơi ổn định. Tình cảm vợ chồng anh H chị N có mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do anh Phùng Ngọc H không quan tâm đến gia đình, không lo toan kinh tế cùng gia đình. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đúng như chị Bùi Thị N đã khai.

Về nguyện vọng của con chung: Tòa án đã lấy ý kiến của cháu Phùng Thị Minh H vì cháu H đã trên 7 tuổi. Cháu Phùng Thị Minh H có nguyện vọng muốn tiếp tục ở với mẹ là chị Bùi Thị N.

Tại phiên tòa, chị Bùi Thị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình về ly hôn, quyền và nghĩa vụ nuôi con chung sau ly hôn.

Phía đại diện Viện kiểm sát nhận định về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi vụ án được đưa ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Đối với bị đơn có địa chỉ cư trú rõ ràng, đã được Tòa án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn không tham gia tố tụng. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H có mâu thuẫn trầm trọng; không còn tình cảm vợ chồng; mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử quyết định cho ly hôn. Về con chung hiện cháu Phùng Thị Minh H và Phùng Gia B đang ở với chị Bùi Thị N ổn định; chị N có đầy đủ điều kiện nuôi con nên cần giao cả hai con chung cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng không có nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là anh Phùng Ngọc H không có mặt tại Tòa án mà không có lý do chính đáng. Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh Phùng Ngọc H đúng như địa chỉ mà nguyên đơn đã cung cấp. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh Phùng Ngọc H. Do bị đơn đã được triệu hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ nhất nhưng vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm về độ tuổi cũng như những quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống sau khi kết hôn giữa chị N và anh H có xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn đã được xác minh thể hiện vợ chồng chị N anh H trong cuộc sống có nhiều mâu thuẫn, bất đồng với nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; anh Phùng Ngọc H không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con và chu cấp tiền nuôi con cùng chị N. Vợ chồng đã phải sống ly thân nhau và trong thời gian ly thân, chị N và anh H cũng không quan tâm đến nhau nữa mà bỏ mặc ai sống thế nào cũng được. Như vậy, chị N và anh H đã không còn thương yêu nhau, không còn chung sống cùng nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; đã vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị N là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và cần chấp nhận.

Về con chung: Xác nhận chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H có 02 con chung là Phùng Thị Minh H, sinh ngày 27/5/2011 và Phùng Gia B, sinh ngày 23/10/2016 và hiện các cháu đang ở cùng chị Bùi Thị N. Khi ly hôn, chị Bùi Thị N nhận trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét điều kiện nuôi con của cả hai bên thấy rằng: phía chị N có công việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định còn phía anh H hiện thường xuyên không sinh sống tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, không có chỗ ở ổn định. Hơn nữa, thực tế cháu Phùng Thị Minh H và Phùng Gia B vẫn đang ở cùng chị Bùi Thị N. Nguyện vọng của cháu Phùng Thị Minh H là muốn ở với mẹ. Do vậy, vì quyền lợi mọi mặt của trẻ em, Hội đồng xét xử xét cần giao cả hai con chung cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hợp tình, hợp lý. Về nghĩa vụ cấp dưỡng phía chị Bùi Thị N chưa có yêu cầu anh Phùng Ngọc H đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là ý kiến tự nguyện của chị Bùi Thị N và không ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị N nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị Bùi Thị N vẫn có quyền yêu cầu anh Phùng Ngọc H cấp dưỡng trong quá trình nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Phùng Ngọc H có quyền thăm nom con chung sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Do chị Bùi Thị N khai là không có và việc anh Phùng Ngọc H vắng mặt nên Tòa án không lấy được ý kiến của anh H nên không có cơ sở xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp về tài sản chung và có yêu cầu thì sẽ được xem xét bằng vụ việc khác.

Về nợ chung của vợ chồng: Xác định không có.

Án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N về việc xin ly hôn; cho chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Phùng Ngọc H.

2. Về con chung: Chị Bùi Thị N và anh Phùng Ngọc H có 02 con chung là Phùng Thị Minh H, sinh ngày 27/5/2011 và Phùng Gia B, sinh ngày 23/10/2016. Sau khi ly hôn, giao cháu là Phùng Thị Minh H và Phùng Gia B cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phùng Ngọc H chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Bùi Thị N chưa có yêu cầu. Anh Phùng Ngọc H có quyền thăm nom con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở. Anh Phùng Ngọc H không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Bùi Thị N.

3. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Về tài sản chung đương sự khai là không có. Về nợ chung xác nhận không có.

4. Án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0004216 ngày 13/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn; chị Bùi Thị N đã nộp xong án phí.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ