vanban.org

Bản án 17/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Gia H đối với ông Trần Văn C về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Gia H ly hôn ông Trần Văn C.2. Về con chung: Giao con chung tên là Trần Nhật Huy, sinh ngày 11/9/2013 cho bà Nguyễn Thị Gia H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên là Trần Thị Diệu Hiền, sinh ngày 24/11/2005 cho ông Trần Văn C trực tiếp nuôi dưỡng; không ai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Gia H đối với ông Trần Văn C về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
H. HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22/4/2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút

Bà Lê Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 108/2021/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXX-ST ngày 08 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Gia H, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn A, xã H1, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn A, xã H1, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2021, quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Gia H trình bày:

Bà và ông C xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã H1, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng vào năm 2003; hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà sống chung tại thôn A, xã H1, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp, ông C không lo làm ăn mà thường xuyên uống bia rượu về gây gỗ, đánh đập, sĩ nhục bà. Nay, bà xác định không còn tình cảm gì với ông C nữa, mâu thuẫn vợ chồng không hòa giải được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông C.

Về quan hệ con chung: Bà xác định bà và ông C có 03 con chung tên là Trần Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 08/4/2004; Trần Thị Diệu Hiền, sinh ngày 24/11/2005 và Trần Nhật Huy, sinh ngày 11/9/2013. Tại phiên tòa, bà H xác định ly hôn thì bà có nguyện vọng được nuôi con Trần Nhật Huy và đồng ý giao con Trần Thị Diệu Hiền cho ông C nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Đối với con Trần Thị Mỹ Duyên đến ngày xét xử đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ông Trần Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nH vắng mặt không có lý do và không có văn bản ghi ý kiến gửi Tòa án.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Bản sao trích lục Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục khai sinh của con chung, bản sao CMND của nguyên đơn, sổ hộ khẩu, bản tự khai của nguyên đơn, biên bản xác minh tại địa phương của Tòa án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà H và áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho bà H được ly hôn ông C. Về con chung: Đề nghị áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình xử giao con Trần Nhật Huy cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Trần Thị Diệu Hiền cho ông C nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con; đối với con Trần Thị Mỹ Duyên đã thành niên nên không đề cập đến. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến. Về án phí sơ thẩm bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện Hòa Vang. Do vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nH vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Bà H và ông C xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại UBND xã H1, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân tự nguyện (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 118/2003, quyển số 1 ngày 30/12/2003). Đây là hôn nhân hội đủ các điều kiện do Luật Hôn nhân và gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bà H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng nên tha thiết xin ly hôn, còn ông C vắng mặt không có ý kiến phản hồi. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Quá trình sống chung thì giữa vợ chồng bà H và ông C xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp. Qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng bà H và ông C xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vả, đánh nhau; nhiều lần chính quyền địa phương, công an xã đã can thiệp giải quyết mâu thuẫn. Ông C đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nH vắng mặt và không có ý kiến phản hồi nên thể hiện ý chí không mong muốn hàn gắn mâu thuẫn và níu kéo cuộc hôn nhân này. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng bà H và ông C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin được ly hôn của bà H là chính đáng, phù hợp với pháp luật nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà H được ly hôn đối với ông C.

Về con chung: Bà H và ông C có 03 con chung tên là Trần Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 08/4/2004; Trần Thị Diệu Hiền, sinh ngày 24/11/2005 và Trần Nhật Huy, sinh ngày 11/9/2013. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Trần Nhật Huy và giao con Trần Thị Diệu Hiền cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung Trần Nhật Huy có nguyện vọng được sống cùng với mẹ, con chung Trần Thị Diệu Hiền có nguyện vọng được sống cùng cha khi cha mẹ ly hôn; hiện nay bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huy, còn cháu Hiền đã lớn, gần đến tuổi thành niên. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con Trần Nhật Huy cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Trần Thị Diệu Hiền cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với ý chí mong muốn của con chung, đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của con chung. Bà H và ông C không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trần Thị Mỹ Duyên đã đủ tuổi thành niên nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Các bên đương sự vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ C hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Gia H đối với ông Trần Văn C về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Gia H ly hôn ông Trần Văn C.2. Về con chung: Giao con chung tên là Trần Nhật Huy, sinh ngày 11/9/2013 cho bà Nguyễn Thị Gia H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên là Trần Thị Diệu Hiền, sinh ngày 24/11/2005 cho ông Trần Văn C trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trần Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 08/4/2004 đã đủ tuổi thành niên nên không đề cập giải quyết.

Quyền và nghĩa vụ đối với con chung, các bên đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Gia H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Gia H phải chịu nH được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004042 ngày 21/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Gia H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Hòa Vang;

- Chi cục THADS huyện Hòa Vang;

- UBND xã H1 (Số ĐKKH: 118 ngày 30/12/2003);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Phạm Anh Tuấn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Hòa Vang;

- Chi cục THADS huyện Hòa Vang;

- UBND xã Hòa C (Số ĐKKH: 22 ngày 03/4/2017);

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ