- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA ly hôn Trần Ngọc H - Tàng Văn H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Trần Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 144 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 5- 2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ pH1 toà: Bà Lương Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Anh Tuấn.
2. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng.
- Thư ký pH1 toà: Ông Lương Chung Duy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang tham gia pH1 tòa: Bà Chu Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 249/2021/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022; quyết định hoãn pH1 tòa số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ dân phố VK, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Có đơn xin xử vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Tàng Văn H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn BM, xã BN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Ngọc H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Tàng Văn H1 qua tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm hóa, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống tại Tổ dân phố VK, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, vào khoảng cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng ít đi. Việc hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thì gia đình hai bên đều biết, có tiến hành hòa giải nhưng không thành. Chị và anh H1 bắt đầu sống ly thân từ cuối năm 2017, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tàng Văn H1.
Về con chung: Quá trình chung sống chị có 01 con chung tên là Tàng Thị Thanh Nh, sinh ngày 21/02/2015. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tàng Thị Thanh Nh và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập anh Tàng Văn H1 đến để giải quyết việc chị Trần Ngọc H đề nghị ly hôn, nhưng anh H1 không có mặt và không có ý kiến trình bày đối với các nội dung đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Ngọc H. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh Tàng Văn H1 vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn BM, xã BN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Theo lời khai của bà Hoàng Thị Ph (mẹ đẻ của anh Tàng Văn H1) thì chị Trần Ngọc H và anh Tàng Văn H1 qua tìm hiểu tự nguyện được hai bên gia đình tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn chị H và anh H1 sống tại tổ VK, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, không hiểu vì lý do gì anh H1 về thôn BM, xã BN sinh sống cùng vợ chồng bà từ năm 2017 đến nay, chị H cũng không về chung sống cùng anh H1, chị H và anh H1 ly thân từ năm 2017 đến nay. Chị H và anh H1 có 01 con chung là cháu Tàng Thị Thanh Nh, sinh ngày 21/02/2015 hiện nay đang ở với chị H, về tài sản và nợ chung của chị H và anh H1 bà không nắm được do chị H và anh H1 không cho bà biết. Bà là người trực tiếp nhận các thông báo và giấy triệu tập của Tòa án cho anh H1, bà cũng đã thông báo cho anh H1 được biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa chị H và anh H1. Hiện nay anh H1 đang đi làm ăn ở dưới Hà Nội, còn địa chỉ cụ thể nơi làm việc của anh H1 thì bào không biết nên không cung cấp được cho Tòa án
Ngày 26/5/2022, chị Trần Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị H trình bày: Giữ nguyên nguyện vọng được ly hôn với anh Tàng Văn H1; về con chung, chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Tàng Thị Thanh Nh và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” của chị Trần Ngọc H; cho chị Trần Ngọc H được ly hôn với anh Tàng Văn H1.
- Về con chung: Giao cháu Tàng Thị Thanh Nh, sinh ngày 21/02/2015 cho chị Trần Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Tàng Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trần Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại pH1 tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng.
Chị Trần Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn với anh Tàng Văn H1; anh Tàng Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn BM, xã BN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn", thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Quá trình xác minh tại địa phương cho thấy, anh Tàng Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn BM, xã BN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Theo thông tin từ gia đình, anh H1 đi làm công nhân tại Hà Nội nhưng không thông báo địa chỉ cụ thể nên hiện tại không rõ anh H1 đang ở đâu. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo, triệu tập đối với anh H1 và theo gia đình anh H1 cung cấp, anh H1 có biết việc chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh nhưng anh H1 không có mặt tại Tòa án và cũng không thông báo địa chỉ cụ thể nơi ở và nơi làm việc, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thực hiện các thủ tục niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên anh Tàng Văn H1 vẫn vắng mặt lần thứ hai, chị Trần Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc H và anh Tàng Văn H1 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2014 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Qua kết quả xác minh:Tại thôn BM, xã BN, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang cho thấy: Chị H và anh H1 kết hôn và chung sống với nhau tại thị trấn Vĩnh Lộc từ năm 2014 đến đầu năm 2017 thì anh H1 về sinh sống tại thôn BM, xã BN đến nay, chị H không về chung sống cùng anh H1. Vợ chồng chị H và anh H1 sống ly thân từ năm 2017 đến nay.
+ Đại diện gia đình H1 cung cấp là cuộc sống vợ chồng chị H và anh H1 đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, còn nguyên nhân cụ thể thì gia đình không nắm được, từ năm 2017 đến nay chị H và anh H1 không quan tâm, liên lạc với nhau. Anh H1 biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết việc ly hôn giữa chị H và anh H1.
Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng chị H và anh H1 thực tế đã không tồn tại từ năm 2017 đến nay; chị H và anh H1 đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình thì tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Ngọc H, xử cho chị Trần Ngọc H được ly hôn với anh Tàng Văn H1.
Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 con chung là Tàng Thị Thanh Nh, sinh ngày 21/02/2015. Xét thấy hiện anh Tàng Văn H1 không có địa chỉ cư trú rõ ràng, kể từ khi ly thân đến nay cháu Nh do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nên cần giao cháu Tàng Thị Thanh Nh cho chị Trần Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị H xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị H xác định không có, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Trần Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Tàng Văn H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" của chị Trần Ngọc H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Ngọc H được ly hôn với anh Tàng Văn H1.
2. Về con chung: Giao cháu Tàng Thị Thanh Nh, sinh ngày 21/02/2015 cho chị Trần Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Tàng Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Trần Ngọc H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0003586, ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Anh Tàng Văn H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Ngọc H và anh Tàng Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - UBND thị trấn VL(Nơi ĐKKH) ; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PH1 TÒA (đã ký) Lương Thị Huệ |