- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ-ST"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà T, tuyên xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29-12-2022 V/v xin ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Phan Công Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 138/2022/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXX-ST ngày 16 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hà T, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn Xuân N, xã Cẩm N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1992; Trú tại: Thôn Tân H, xã Cẩm N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hà T và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, vụ án có nội dung: Chị Nguyễn Thị Hà T và anh Hoàng Ngọc L đăng ký kết hôn vào ngày 30/11/2020 tại UBND xã Cẩm N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, anh L ham chơi không có trách nhiệm gì với gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vả, xúc phạm nhau. Chị và và anh L sống ly thân gần một năm nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thu P, sinh ngày 26/11/2021. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai; biên bản lấy lời khai; biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác, bị đơn anh Hoàng Ngọc L trình bày: Anh L thống nhất như chị Nguyễn Thị Hà T trình bày, vợ chồng có đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh thiếu trách nhiệm với gia đình, ham chơi dẫn nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 02/2022 đến nay. Nay chị T yêu cầu giải quyết ly hôn thì anh mong muốn chị T suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ, nuôi dạy con cái, còn nếu chị T vẫn kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày, nếu Tòa án giải quyết vợ chồng ly hôn anh đồng ý nhường con cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh không đóng góp cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tại phiên tòa các thành viên Hội đồng xét xử đã có mặt đầy đủ, không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng; Quá trình xét xử đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng; Tòa án đã tiến hành tống đạt, thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có tại vụ án và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Nguyễn Thị Hà T và anh Hoàng Ngọc L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử cho chị Nguyễn Thị Hà T được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L; Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Thu P, sinh ngày 26/11/2021 đến tuổi trưởng thành, anh Hoàng Ngọc L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản; Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Hà T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Hà T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Hoàng Ngọc L. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Hoàng Ngọc L có nơi đăng ký HKTT và chổ ở: thôn Tân H, xã Cẩm N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hà T và anh Hoàng Ngọc L đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 30/11/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm N, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị T nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, anh L không có trách nhiệm gì với gia đình. Từ tháng 02/2022 đến nay vợ chồng sống ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị có nguyện vọng được ly hôn, giải phóng cho hai người để mỗi người có cuộc sống riêng, tốt đẹp hơn. Quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Ngọc L mong muốn chị T suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, anh L cũng đã thừa nhận, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh ham chơi, thiếu trách nhiệm với gia đình cả về kinh tế lẫn tình cảm nên vợ chồng thường xuyên cãi vả, nhiều lần xúc phạm nhau; quá trình vợ chồng mâu thuẩn đã được gia đình hòa giải, khuyên nhủ nhưng không cải thiện được gì; vợ chồng đã sống ly thân như chị T trình bày.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau… nhưng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hà T và anh Hoàng Ngọc L không đạt được mục đích đó, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hà T, xử cho chị được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L.
[2.2] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Hà T và anh Hoàng Ngọc L xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thu P, sinh ngày 26/11/2021. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh L đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Anh L cũng đồng ý nhường quyền nuôi con cho chị T. Mặt khác, hiện nay chị T là người đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, con đang dưới 36 tháng tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con cho chị Nguyễn Thị Hà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng thống nhất không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo luật định.
[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 1 điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà T, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hà T được ly hôn với anh Hoàng Ngọc L.
- Về con chung: Giao con Hoàng Thu P, sinh ngày 26/11/2021 cho chị Nguyễn Thị Hà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
2. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Hà T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên theo biên lai thu tiền số 0008948 ngày 17/10/2022. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị Nguyễn Thị Hà T đã nộp đủ.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Cẩm Xuyên; - Chi cục THADS huyện Cẩm xuyên; - UBND xã Cẩm N (Nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu HS, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng |