- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Bẩy kiện anh Hải - HĐVTS"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T đối với anh Đỗ Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 17 /2022/ DS-ST Ngày 08/4/2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán sơ cấp - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt và ông Nguyễn Quang Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang: Bà Đồng Thị Toàn – Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 08/4/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 102/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐST-DS ngày 11/02/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2022 ngày 10/3/2022 giữa:
+ Nguyên đơn: Ông Đồng Bá B, sinh năm 1972.
Bà Đồng Thị T, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Giáp Thị Vân, sinh năm 1983 – (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Kim Vĩnh An – Số 19, đường Hùng Vương, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
+ Bi ̣ đơn: Anh Đỗ Thanh H, sinh năm 1987 - (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Hiển, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện ghi ngày 16/8/2021 và lời khai tiếp theo Nguyên đơn ông Đồng Bá B và bà Đồng Thị T đều trình bày:
Vợ chồng ông bà có làm nghề kinh doanh hiệu cầm đồ, cho vay tiền nên nhiều lần anh Đỗ Thanh H thường trú tại thôn Hiển, xã Quang Thịnh đến gia đình ông bà vay tiền để làm ăn kinh doanh. Vợ chồng ông bà đã cho anh H vay tổng số 3 lần tiền, cụ thể:
- Ngày 12/12/2018 vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 5 tháng, lãi suất 1,5%/tháng, hạn trả 12/5/2019.
- Ngày 15/12/2018 vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay 5 tháng, lãi suất 1,5%/tháng.
- Ngày 07/5/2019 vay số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay 5 ngày, lãi suất 1,5%/tháng.
Tổng số tiền anh H vay của vợ chồng ông bà là 130.000.000 đồng tiền gốc. Tính đến ngày 15/5/2019 anh H đã trả hết số tiền lãi, tuy nhiên sau đó anh H không trả thêm được tiền gốc, lãi cho vợ chồng ông bà. Vợ chồng ông bà đã đến tận gia đình anh H đòi nhiều lần nhưng anh H cố tình tránh mặt không trả.
Nay vợ chồng ông bà yêu cầu phía anh Đỗ Thanh H pH thanh toán trả cho vợ chồng ông bà tổng số nợ gốc là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) và lãi suất 1,5%/tháng kể từ ngày 16/5/2019 đến nay.
Trước phiên tòa hôm nay bà Giáp Thị Vân vắng mặt.
- Phía bị đơn anh Đỗ Thanh H: Tòa án đã nhiều lần đến tại gia đình bố mẹ đẻ anh Đỗ Thanh H để giao các văn bản tố tụng. Do hiện tại anh H là lái xe đường dài, thi thoảng mới về gia đình, Tòa án đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối anh Đỗ Thanh H lên Đài tiếng nói Việt Nam và Báo Công lý đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng tại gia đình và địa phương nơi cư trú hộ khẩu ban đầu cũng như niêm yết các thủ tục tố tụng tại gia đình anh H theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Tuy nhiên phía anh H vẫn không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh Đỗ Thanh H. Tại phiên toà hôm nay anh Đỗ Thanh H vắng mặt.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Thẩm phán và thư ký trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán xác định đúng mối quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc giao các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng và gửi hồ sơ cho VKS về thời gian đều đảm bảo theo đúng quy định của luật tố tụng Dân sự.
- HĐXX thực hiện đúng quy định của pháp luật;
- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật; Bị đơn anh Đỗ Thanh H không chấp hành đúng quy định của pháp luật, quá trình Tòa án giải quyết không có mặt và tại phiên tòa hôm nay anh H vắng mặt lần thứ hai. Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
+ Về quan điểm đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T yêu buộc anh Đỗ Thanh H pH có trách nhiệm thanh toán trả cho ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T số nợ gốc vay 130.000.000 đồng và tiền lãi 1,5%/tháng với số tiền là 67.730.000 đồng. Tổng số tiền cả gốc và lãi là 197.730.000 đồng (Một trăm chín bảy triệu, bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
Về án phí: Anh Đỗ Thanh H pH chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Những yêu cầu, kiến nghị khác: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các bên đương sự, HĐXX nhận định:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn anh Đỗ Thanh H đã được Tòa án tống đạt quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Giáp Thị Vân vắng mặt nhưng đã có đơn xin được xét xử vắng mặt, anh H tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, do vậy HĐXX xử vắng mặt đương sự, căn cứ Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa vợ chồng ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T với anh Đỗ Thanh H là quan hệ tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án và ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Giáp Thị Vân. Địa chỉ nơi cư trú của bị đơn tại huyện Lạng Giang. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [3] Về thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đỗ Thanh H có viết và ký giấy biên nhận vay tiền của ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T vào các ngày 12/12/2018 vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 5 tháng, lãi suất 1,5%/tháng. Ngày 15/12/2018 vay số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay 5 tháng, lãi suất 1,5%/tháng và ngày 07/5/2019 vay số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay 5 ngày, lãi suất 1,5%/tháng. Phía vợ chồng ông B, bà T thừa nhận anh H đã thanh toán trả toàn bộ tiền lãi tính đến ngày 15/5/2019. Và kể từ thời điểm đó thì anh H không trả thêm cho vợ chồng ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T nên vợ chồng ông bà đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án. Theo quy định tại Điều 184 Bộ luật TTDS thì việc khởi kiện của ông B, bà T vẫn còn thời hiệu khởi kiện và mối quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự;
Về nội dung vụ kiện:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T, Hội đồng xét xử thấy:
Tại giấy biên nhận vay tiền lập ngày 12/12/2018 số tiền 60.000.000 đồng; Ngày 15/12/2018 số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn trả tiền cả 02 giấy vay là 05 tháng và ngày 07/5/2019 số tiền 30.000.000 đồng, hẹn thời hạn thanh toán trong vòng 5 ngày và cả 3 giấy vay đều ghi lãi suất vay là 1,5%/tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng do phía anh H vi phạm về thời hạn thanh toán nên vợ chồng bà T đã làm đơn khởi kiện yêu cầu anh H pH thanh toán trả cho vợ chồng bà tổng số nợ gốc là 130.000.000 đồng, tiền lãi suất kể từ ngày 16/5/2019 đến nay.
Về các chứng cứ và lời khai cụ thể bị đơn: Mặc dù anh H thông qua gia đình biết được việc Tòa án tiến hành niêm iết các thủ tục tố tụng thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và đăng công báo lên đài, báo việc tìm kiếm người vắng mặt tại địa phương nhưng anh H cố tình không đến và cũng không giao nộp tài liệu chứng cứ gì có liên quan đến việc thanh toán nợ với vợ chồng ông B, bà T nên HĐXX xác định kể từ thời điểm vay tiền phía anh H chưa thanh toán trả được tiền gốc vay cho vợ chồng chị ông B, bà T.
Về các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thu thập được và căn cứ pháp luật giải quyết:
Tòa án đã niêm iết thông báo và lập biên bản ấn định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ đối với tất cả các bên đương sự, tuy nhiên các đương sự đều không xuất trình thêm cho Tòa án bất cứ tài liệu nào khác, Quá trình giải quyết vụ án phía bà Giáp Thị Vân là người đại diện theo ủy quyền đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
HĐXX xét thấy, việc vay nợ giữa các bên là do các bên tự thoả thuận với nhau về số tiền và thời hạn thanh toán. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T buộc anh Đỗ Thanh H pH có trách nhiệm thanh toán trả cho ông B, bà T tổng số tiền nợ gốc vay là 130.000.000 đồng.
Về tiền lãi suất: Tại các giấy biên nhận vay tiền các bên đều thỏa thuận về tiền lãi suất 1,5%/tháng. Mặc dù anh H không hợp tác và cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho việc thanh toán tiền, tuy nhiên phía vợ chồng ông B, bà T thừa nhận anh H đã thanh toán tiền lãi suất cho khoản nợ vay đến ngày 15/5/2019. Do thời gian thực hiện hợp đồng vay tiền của phía anh H không đúng với thời gian hứa trả tiền trong giấy vay tiền đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng ông B. Nay ông B, bà T ủy quyền cho bà Giáp Thị Vân vẫn yêu cầu được tính lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng theo đúng hợp đồng các bên đã giao kết. Để đảm bảo quyền lợi cho bên cho vay tiền, căn cứ vào nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP Tòa án nhân dân Tối cao: “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm” và khoản 4 Điều 466; khoản 1 Điều 468 của BLDS 2015 cần chấp nhận với yêu cầu trên của ông B, bà T là phù hợp.
Về thời điểm tính lãi: Ông B, bà T thừa nhận, quá trình vay và thanh toán nợ, phía anh H đã thanh toán trả cho vợ chồng ông bà toàn bộ tiền lãi suất tính đến ngày 15/5/2019 và thỏa thuân thời điểm tính tiền lãi được tính kể từ ngày 15/5/2019. Kể từ ngày 16/5/2019 đến ngày mở phiên tòa 08/4/2022 cụ thể sau: 130.000.000 đồng x 1,5%/tháng x 02 năm 10 tháng 22 ngày = 67.730.000 đồng. Tổng số tiền cả gốc và lãi là 197.730.000 đồng (Một trăm chín bảy triệu, bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
Để đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án; áp dụng điều 357 và điều 468 BLDS.
Về chi phí đăng công báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, phía đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu được đăng công báo trên phương tiện thông tin đại chúng và đã được Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Đỗ Thanh H trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên Cổng thông tin điện tử, báo Công lý ngành Tòa án đối với mỗi loại trong 3 ngày liên tiếp. Căn cứ vào Điều 180 BLTTDS thì việc yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp và được Tòa án chấp nhận. Do vậy người yêu cầu pH chịu toàn bộ chi phí cho việc đăng công báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với yêu cầu của mình.
Về án phí: Do yêu cầu của ông B, bà T được chấp nhận nên không pH chịu án phí. Anh Đỗ Thanh H pH chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 5% đối với tổng số tiền pH thanh toán theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 357 Bộ luật dân sự. Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T đối với anh Đỗ Thanh H.
- Buộc anh Đỗ Thanh H pH có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T số tiền gốc vay còn nợ là 130.000.000 đồng và tiền lãi suất là 67.730.000 đồng. Tổng số tiền cả gốc và lãi là 197.730.000 đồng (Một trăm chín bảy triệu, bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên pH thi hành án còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Anh Đỗ Thanh H pH chịu 9.886.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả ông Đồng Bá B, bà Đồng Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.600.000đồng (Bốn triệu, sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012444 ngày 12/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án vắng mặt hoặc được niêm yết công khai.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - THADS huyện Lạng Giang; - Các đương sự. - Lưu - Các đương sự. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Hằng. |