vanban.org

Bản án 17/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 20/05/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của UBND xã C và một phần kháng nghị của VKSND huyện Tứ Kỳ, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ:

Xác định khối lƣợng cát san lấp và đất nguyên liệu của ông Tiêu Văn Đ trên diện tích 46.392m2 tại bãi Toại An, xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng còn lại là 164.824,8m3 ở 02 khu vực: Khu vực số 1 đƣợc giới hạn bởi các điểm A1,A2,A3,A4,A5,A6,A7,A8,A9,A10,A11,A12,A13,A14 đến A1; khu vực số 2 đƣợc giới hạn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông Tiêu Văn Đ khởi kiện đòi tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của UBND xã C và một phần kháng nghị của VKSND huyện Tứ Kỳ, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ:
  • Căn cứ chính? Điều 14 Nghị định số 23/2020/NĐ-CP Quy định về quản lý cát, sỏi lòng…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 23/2020/NĐ-CP Quy định về quản lý cát, sỏi lòng…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/DS-PT
Ngày 20/5/2022
“V/v tranh chấp kiện đòi tài sản"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh và bà Phạm Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thƣ ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tƣởng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30/3, 01/4 và 20/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2021/TLPT-DS ngày 09 tháng 3 năm 2021 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản;

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ bị kháng cáo;

Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2021/QĐPT-DS ngày 09 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa và các thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Ông Tiêu Văn Đ, sinh năm 1960 - Chủ doanh nghiệp xây dựng Thành Đ; địa chỉ: Số nhà 530, đƣờng 391 thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Bị đơn: Ủy ban nhân dân xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng; ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Chủ tịch UBND xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng.

3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Dƣ; ông Phạm Huy Sơn; ông Vũ Văn Hạt.

4. Người kháng cáo, kháng nghị: Bị đơn (UBND xã C) và Viện trƣởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án ông Tiêu Văn Đ-Chủ doanh nghiệp xây dựng Thành Đ trình bày:

Ngày 20/3/2006, ông Đ và UBND xã Đ nay là x Chí Minh ký kết hợp đồng kinh tế số 03/2006/HĐ-KT thầu đất bãi ven sông Thái Bình xã Đ, theo đó UBND x Đ giao cho ông Đ đất bãi sông Thái Bình thuộc xã Đ, với diện tích 35 mẫu Bắc bộ (120.000m2), loại đất CD/K đất chuyên dùng); mục đích sử dụng: san gạt cấy lúa; nuôi trồng thủy sản và sản xuất gạch bằng lò nung liên tục kiểu đứng công nghệ tiên tiến; thời hạn giao đất là 10 năm từ 20/3/2006 đến hết ngày 20/3/2016); ông Đ đƣợc phép khai thác đất làm lò gạch. Giá trị hợp đồng và phƣơng thức thanh toán: Ông Đ có nghĩa vụ thanh toán cho UBND xã Đ một lần, số tiền là 420.000.000đ bốn trăm hai mƣơi triệu đồng). Sau khi ký hợp đồng, UBND xã Đ đ giao đất cho ông Đ nhƣng hai bên chỉ giao nhận diện tích, không xác định hiện trạng đất, ông Đ cũng đ trả tiền đầy đủ cho UBND xã.

Tháng 12/2006 ông Đ xây dựng dự án lò gạch kiểu đứng, do b i th ng nên ông đ mua cát để san lấp làm chân đế lò và làm lò, bắt đầu vận hành sản xuất gạch từ tháng 3/2007. Khi nhà nƣớc làm đƣờng 5B cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, ông đ làm hồ sơ đề nghị đƣợc đầu tƣ xây dựng bãi chứa, kinh doanh vật liệu trên một phần đất b i đ thuê. Ngày 03/8/2009, UBND huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng đ có thông báo số 63/TB-UBND về việc "Chấp thuận dự án đầu tƣ xây dựng bãi chứa, kinh doanh vật liệu xây dựng tạm thời ở b i ngoài đê sông Thái Bình thuộc xã Đ, huyện T1". Sau khi có chấp thuận đầu tƣ của UBND huyện T1, tháng 9/2009, ông Đ mua 250.000m3 cát đen, đơn giá 33.000 đồng/m3, thành tiền 8.250.000.000đồng, một phần ông dùng để san lấp mặt bằng để làm bến bãi chứa vật liệu phục vụ làm đƣờng 5B (khoảng 70.000m3), phần còn lại 180.000m3, ông đ san gạt làm bãi chứa gạch. Sau khi xây dựng xong đƣờng 5B thì ông còn khoảng 9.000m3 cát là vật liệu làm đƣờng vẫn để tại bãi Đ chƣa chuyển đi.

Ngày 20/3/2016, ông Đ và UBND xã Đ (xã C), huyện T1 đ ký biên bản số 02/BB-TLHĐ về việc “Thanh lý hợp đồng khai thác đất bãi sông Thái Bình”, theo đó UBND x đề nghị ông thực hiện việc san gạt, thu dọn tài sản trả lại mặt bằng trên diện tích đất b i theo các điều khoản trong hợp đồng số 03/2006/HĐ-KT ngày 20/3/2006.

Ngày 06/7/2018, đoàn công tác gồm l nh đạo UBND huyện T1, lãnh đạo UBND xã Đ và ông Đ đ lập biên bản kiểm đếm tài sản tại bãi sản xuất gạch của ông. Tại biên bản này, l nh đạo UBND huyện T1 cũng giao cho UBND x Đ cùng ông Đ xác định diện tích, khối lƣợng đất cát do ông san lấp. Ngày 25/10/2018, giữa ông và UBND xã Đ đ tiến hành đo đạc kiểm tra thực tế diện tích mà ông đ san lấp làm sân phơi gạch và nền lò. Hai bên đ xác định tổng diện tích mà ông đ san lấp là 45.402m2, độ sâu lấy 2 điểm tại 2 đầu, trong đó điểm 1 có độ sâu 4,2m, điểm 2 có độ sâu 3,5m. Sau khi xác định đƣợc tài sản, ông Đ đ tiến hành chuyên chở nguyên vật liệu là tài sản của mình đi.

Ngày 21/01/2019, Chủ tịch UBND xã Đ ra Thông báo số 04/TB-UBND về việc cấm khai thác, chở đất cát trái phép trên bãi sông Thái Bình xã Đ, trong đó có nội dung: "UBND xã nghiêm cấm các chủ thầu đất bến, bãi sông Thái Bình, các chủ lò gạch tự ý tổ chức khai thác đất, cát trên bãi sông Thái Bình (kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm) khi chƣa đƣợc cấp có thẩm quyền huyện, tỉnh phê duyệt".

Do thông báo trên ảnh hƣởng đến quyền lợi của mình, ngày 01/3/2019 ông khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ hủy Thông báo số 04/TB-UBND. Tại bản án số 01/2019/HC-ST ngày 28/6/2019, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ đ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông, xử hủy phần nội dung "kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm". Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Chủ tịch UBND xã Đ đ kháng cáo bản án và Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đ kháng nghị. Tại bản án phúc thẩm số 03/2019/HC-PT ngày 30/9/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, đến nay chính quyền địa phƣơng vẫn ngăn cản việc ông lấy nguyên vật liệu đi.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc UBND x Chí Minh trả cho ông 174.797m3 cát đ san lấp và đất làm nguyên liệu dƣ thừa và 9.000m3 cát san lấp làm đƣờng. Đối với hợp đồng thuê đất số 03 ngày 20/3/2006, hai bên đ thực hiện xong và đ thanh lý hợp đồng, ông và UBND xã C không có tranh chấp gì về hợp đồng nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Giữa ông Tiêu Văn Đ và UBND xã Đ (nay là xã C), huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng có ký Hợp đồng số 03/2006/HĐ-KT ngày 20/3/2006, diện tích đất bãi giao cho ông Đ, mục đích sử dụng, số tiền ông Đ nộp, thời hạn của Hợp đồng đúng nhƣ ông Đ trình bày. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Đ có san mặt bằng làm sân phơi gạch, chân lò gạch và bãi chứa kinh doanh nguyên vật liệu trên b i đấu thầu. Ngày 20/3/2016 giữa ông Đ và UBND xã Đ đ ký biên bản số 02/BB-TLHĐ về việc "Thanh lý hợp đồng khai thác đất bãi sông Thái Bình", nội dung của biên bản đề nghị ông Đ thực hiện việc san gạt, thu dọn tài sản trả lại mặt bằng trên diện tích đất b i theo các điều khoản trong Hợp đồng số 03/2006/HĐ-KT. Ngày 15/12/2018, Chủ tịch UBND huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng có Văn bản số 891/UBND-VP về việc ngăn chặn, xử lý khai thác đất, cát trái phép trên địa bàn xã Đ, huyện T1. Do đó, ngày 21/01/2019 Chủ tịch UBND xã Đ ra Thông báo số 04/TB-UBND về việc cấm khai thác, chở đất cát trái phép trên bãi sông Thái Bình, xã Đ, trong đó có nội dung: "UBND xã nghiêm cấm các chủ thầu đất bến, bãi sông Thái Bình, các chủ lò gạch tự ý tổ chức khai thác đất, cát trên bãi sông Thái Bình (kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm) đối với ông Đ, khi chƣa đƣợc cấp có thẩm quyền huyện, tỉnh phê duyệt, nhằm ổn định tình hình nhân dân, khi nhân dân không đồng ý cho ông Đ lấy đất và cát mang đi. Ông Tiêu Văn Đ đ khởi kiện vụ án hành chính và Tòa án đ chấp nhận yêu cầu của ông Tiêu Văn Đ hủy phần nội dung "kể cả phần tài sản của chủ lò về đất cát đã được UBND huyện, xã kiểm đếm". Nay ông Đ có yêu cầu UBND x để ông Đ mang toàn bộ khối lƣợng cát san lấp, đất làm nguyên liệu và cát còn dƣ trên b i, quan điểm của địa phƣơng nếu ông Đ chứng minh đƣợc cát san lấp, đất làm nguyên liệu và cát còn dƣ trên b i là của ông Đ thì ông Đ đƣợc quyền lấy đi.

Những người làm chứng trình bày:

Ông Nguyễn Văn Dƣ khai: Ngày 14/10/2009 ông và ông Tiêu Văn Đ có ký Hợp đồng kinh tế số 01/HĐKT về việc "Mua vật tƣ xây dựng", theo Hợp đồng bên ông sẽ bán cho ông Tiêu Văn Đ cát đen khối lƣợng 250.000m3, đơn giá 33.000 đồng/m3, tổng thành tiền là 8.250.000.000đồng để ông Đ san lấp mặt bằng phơi gạch, bãi chứa đất và mặt bằng bến b i. Để thực hiện Hợp đồng trên, ông đ mua cát của một số tàu bơm cát sau đó bơm cát từ tàu vào bãi của ông Đ đấu thầu 5 đợt, cụ thể đợt 1: ngày 31/10/2009 bơm 51.121m3 , đợt 2: ngày 15/11/2009 bơm 50.000m3, đợt 3: ngày 30/11/2009 bơm 50.000m3, đợt 4: ngày 15/12/2009 bơm 50.000m3 và đợt 5: ngày 30/12/2009 bơm 49.879m3. Ngày 31/12/2009 ông và ông Tiêu Văn Đ đ thanh lý Hợp đồng trên, số tiền mà ông Đ đ thanh toán cho ông xong.

Ông Phạm Huy Sơn khai: Hiện trạng ông Đ nhận đấu thầu theo Hợp đồng số 03/2006/HĐ-KT ngày 20/3/2006 thì trƣớc đó các chủ lò đ khai thác đất để làm gạch, nên bề mặt có nhiều th ng vũng không đƣợc bằng phẳng, khi bàn giao mặt bằng địa phƣơng và ông Đ chỉ bàn giao diện tích chứ không đo độ sâu, nên ông Đ phải san lấp tạo mặt bằng để xây lò gạch kiểu đứng. Khi thanh lý Hợp đồng số 03, ông Đ và đoàn công tác của huyện T1 và xã Đ (xã C đ tiến hành lập biên bản kiểm đếm các tài sản tại b i trong đó có phần đất gom làm nguyên liệu sản xuất gạch), tiến hành đo đạc diện tích, độ sâu mà ông Đ đ san lấp cát làm sân phơi gạch và nền lò.

Ông Vũ Văn Hạt khai: Khoảng năm 2001 doanh nghiệp của ông có đấu thầu tất cả các bãi ven sông Thái Bình với UBND xã Đ (xã C , trong đó có phần mà doanh nghiệp Thành Đ do ông Đ làm chủ đấu thầu lại, thời hạn là 5 năm, ông đấu thầu b i để lấy đất làm nguyên vật liệu sản xuất gạch, trƣớc khi ông nhận đấu thầu thì trƣớc đó UBND x Đ cũng đ cho một số chủ lò gạch khác đấu thầu để khai thác đất làm gạch, thời điểm đó doanh nghiệp của ông chỉ làm gạch thủ công, ông chỉ khai thác đất đến độ sâu 1,5m, khi bàn giao mặt bằng trả lại địa phƣơng thì ông cũng dùng máy xúc san gạt mặt đáy cho bằng phẳng (mặt đáy là phần đất). Tuy nhiên biên bản kiểm tra hiện trạng để bàn giao mặt bằng giữa ông và UBND x ông không lƣu giữ đƣợc.

Tại biên bản (bổ sung) về việc xác định tài sản thực tế của ông Tiêu Văn Đ trên bãi xã Đ ngày 25/10/2018, UBND xã Đ và ông Tiêu Văn Đ đ thống nhất xác định phần cát ông Đ đ san lấp trên b i nhƣ sau: tổng diện tích bãi san lấp là 45.402m2; đào thực tế lấy 2 điểm tại 2 đầu: Điểm 1 phía Nam giáp ao cá độ sâu là 4,2m; điểm 2 (giáp bãi ông Viện , độ sâu là 3,5m.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 22/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ đ : Căn cứ khoản 1 Điều 106, các điều 107, 108 Luật đất đai năm 2003; Điều 256, Điều 256, khoản 2 Điều 713 BLDS năm 2005 và các điều 164, 166, 580 BLDS năm 2015; các điều 26, 35, 39 của BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Tiêu Văn Đ - Chủ doanh nghiệp xây dựng Thành Đ

Buộc UBND xã C trả ông Tiêu Văn Đ khối lƣợng cát san lấp và cát còn lại tại bãi Toại An, xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng tổng khối lƣợng là 164.824,8m3 có trị giá 24.723.720.000 đồng.

2. Ông Tiêu Văn Đ lấy cát san lấp nhƣ sau:

2.1. Phần cát san lấp khu vực 1: Có diện tích 40.289 m2 thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 01 (307593-2) và thửa số 5, tờ bản đồ số 02 (307593-3) xã C, huyện T1 theo hình A5 A4A14A6 gồm:

- Cạnh phía bắc giáp bờ sông Thái Bình là các cạnh A4A3 dài 171,71m, cạnh A3A2 dài 113,08m.

- Cạnh phía tây giáp ao rƣơi của ông Nhân là cạnh A2A1 dài 121,81m

- Cạnh phía nam giáp ao cá ông Nhân là các cạnh A1A13 dài 112,43m; A13A12 dài 175,56m; A12A11 dài 51,60m; A11A10 dài 23,90m; A10A9dài 7,58m; A10A9 dài 7,58m

- Cạnh phía đông giáp ao cá của ông Nhân là các cạnh A9A8 dài 4,96m; A8A7 dài 21,94m; A7A6 dài 15,30m và giáp khu vực 2 là các cạnh A6A14 dài 52,16m; A14A4 dài 137,58m. (Do ông Đ đ lấy đi 14.077m3 cát san lấp) hạ độ sâu toàn bộ diện tích trên xuống 3,9m, nên khối lƣợng cát còn lại đƣợc lấy đi là 143.408,2 m3.

2.2. Phần cát san lấp khu vực 2: Có diện tích 6.103 m2 thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 01 (307593-2) và thửa số 5, tờ bản đồ số 02 (307593-3) xã C, huyện T1 theo hình A5 A4A14A6 gồm:

- Cạnh phía bắc giáp bờ sông Thái Bình là cạnh A5A4 dài 35,23m.

- Cạnh phía tây giáp khu vực 1 là cạnh A4A14 dài 137,58m

- Cạnh phía nam khu vực 1 là cạnh A14A15 dài 52,16m

- Cạnh phía đông giáp ao cá ông Nhân là cạnh A6A5 dài 143,36m

Có độ sâu là 2,6m. Tổng khối lƣợng cát san lấp là 15.867,8m3

2.3. Phần bờ cát: Tại tờ bản đồ số 05 (307593-6), thửa số 505 xã C, huyện T1: Giáp với khu vực ao nuôi cá gia đình ông Nhân và phần ruộng nuôi rƣơi của gia đình ông Nhân. Xuất phát từ vị trí mặt cắt M 6 (độ rộng trung bình bề mặt bờ cát là 6m, độ rộng trung bình phần đáy bờ cát là 11m và độ cao trung bình bờ cát là 2,4m, có diện tích 20,4m2) giáp với khu vực ao nuôi cá của ông Nhân và phần nuôi rƣơi của ông Nhân dọc theo hƣớng bờ cát tới vị trí mặt cắt M1 có chiều dài bờ cát là 272m. Tổng khối lƣợng bờ cát là 20,4m2x272m=5548,8m3.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo của các đƣơng sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn UBND x C kháng cáo toàn bộ bản án đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tiêu Văn Đ vì không đủ căn cứ chứng minh 164.824,8m3 cát san lấp là tài sản của ông Đ; Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ kháng nghị đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì các lý do sau: Cấp sơ thẩm chƣa thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định khối lƣợng cát ông Đ đ san lấp làm chân lò gạch và b i phơi gạch; chƣa xác minh với cơ quan chuyên môn về việc nếu cho ông Đ mang cát đi có ảnh hƣởng đến môi trƣờng, bảo vệ đê m a b o lũ không; Diện tích san gạt có sự chênh lệch giữa biên bản xác định tài sản và biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án nhƣng chƣa đƣợc làm rõ; trƣờng hợp thuê đất của ông Đ khi nhà nƣớc thu hồi đất thì không phải bồi thƣờng đối với tài sản gắn liền với đất; cấp sơ thẩm đ không đƣa UBND huyện T1 và UBND tỉnh Hải Dƣơng tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan là thiếu; đây là vụ án kiện đòi tài sản nên phải xác định án phí không giá ngạch nhƣng cấp sơ thẩm buộc UBND x C chịu án phí có giá ngạch là không chính xác.

Tại giai đoạn phúc thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định hợp đồng thuê đất đ thực hiện xong, các bên không có tranh chấp gì về hợp đồng nên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Các đƣơng sự đều xác định việc thẩm định của cấp sơ thẩm xác định khối lƣợng cát ông Đ đ san lấp, đất làm nguyên liệu thừa là 164.824,8m3 trên diện tích 46.392m2 là đúng. Các đƣơng sự cũng thống nhất định giá cát san lấp là 116.000đồng/m3.

Tại biên bản xác minh ngày 18/6/2021, UBND huyện T1 xác định diện tích đất mà UBND xã Đ cho ông Đ thuê là đất chuyên d ng, đất này thuộc quyền quản lý của UBND huyện T1 nên việc UBND xã Đ cho ông Đ thuê là không đúng thẩm quyền, làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của UBND huyện nhƣng cấp sơ thẩm không đƣa UBND huyện T1 tham gia tố tụng với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan trong vụ án làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của UBND huyện; mặt khác việc cấp sơ thẩm cho ông Đ đƣợc khai thác phần cát san lấp với độ sâu 3,9m và 2,6m mang đi khỏi bãi sẽ làm ảnh hƣởng đến dòng chảy, tiêu thoát lũ trong m a mƣa b o, ảnh hƣởng đến hành lang bảo vệ đê điều, có nguy cơ gây sạt lở, vỡ đê trong m a mƣa lũ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ngƣời đại diện của UBND x C giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ; Đại diện VKSND tỉnh Hải Dƣơng rút nội dung kháng nghị đối với nội dung cấp sơ thẩm chƣa làm rõ sự chênh lệch diện tích giữa biên bản xác định tài sản và biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án; các nội dung kháng nghị khác vẫn giữ nguyên;

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đ thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của đương sự, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định và đ nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo hợp lệ.

Về quan hệ tranh chấp: Ông Tiêu Văn Đ khởi kiện UBND x C để đòi lại số cát ông đ san lấp và đất nguyên liệu thừa là 164.824,8m3. Số đất cát này xuất phát từ việc UBND x C cho ông Đ thuê 120.000m2 đất b i vào ngày 20/3/2006 để san gạt cấy lúa, nuôi trồng thủy sản và khai thác đất làm gạch và ông Đ đ mua cát để san lấp làm lò gạch, b i chứa gạch. Hai bên đ thực hiện xong hợp đồng và đến ngày 20/3/2016, hai bên đ lập biên bản thanh lý hợp đồng. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đƣơng sự đều trình bày hợp đồng đ thực hiện xong và không ai có tranh chấp về hợp đồng, nay ông Đ chỉ khởi kiện đòi lại tài sản là số lƣợng cát đ san lấp và đất nguyên liệu thừa nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này đƣợc xác định là tranh chấp về quyền sở hữu kiện đòi tài sản quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại biên bản xác minh ngày 18/6/2021, ngƣời đại diện hợp pháp của UBND huyện T1 cho rằng diện tích đất bãi mà ông Đ thuê của UBND xã C thuộc thẩm quyền quản lý của UBND huyện T1, UBND xã C ký hợp đồng cho ông Đ thuê đất là trái thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm cho ông Đ đƣợc mang cát san lấp đi nhƣng không đƣa UBND huyện T1 tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của UBND huyện T1; Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ cũng kháng nghị cho rằng Tòa án không đƣa UBND huyện T1 và UBND tỉnh Hải Dƣơng tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi- nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu. Tuy nhiên, UBND huyện T1 là cơ quan quản lý về đất đai ở huyện T1 mà quan hệ tranh chấp trong vụ án này là kiện đòi tài sản (giữa ông Tiêu Văn Đ và UBND xã C , các bên đƣơng sự đều không có tranh chấp về hợp đồng thuê đất nên Tòa án thấy không cần thiết phải đƣa UBND huyện T1, UBND tỉnh Hải Dƣơng tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi-nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Quá trình giải quyết, Tòa án sẽ xem xét các ý kiến của UBND huyện T1 với tƣ cách cơ quan quản lý đất đai cấp ở huyện để quyết định giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tình hình địa phƣơng.

Về nội dung:

Về diện tích bãi san lấp và khối lƣợng cát san lấp, đất nguyên liệu: Ông Đ trình bày quá trình thuê đất bãi của UBND xã C, ông đ san lấp cát 2 lần để làm chân đế lò gạch và bãi chứa gạch: lần 1 vào năm 2006 khoảng 20.000m3 (không có hóa đơn, chứng từ vì mua nhỏ lẻ); lần 2 vào năm 2009 ông mua 250.000m3 cát san lấp làm sân phơi gạch là 180.000m3 (còn lại 70.000m3 san lấp bãi chứa nguyên vật liệu). Sau khi thanh lý hợp đồng thuê đất với UBND x , ông đ lấy lại một lƣợng cát đ san lấp đem đi, còn lại 183.793m3 là cát san lấp và đất làm nguyên liệu vẫn ở b i đất thuê, chƣa mang đi do UBND x C không cho ông lấy lại . HĐXX thấy, tại biên bản kiểm đếm tài sản ngày 06/7/2021 và biên bản bổ sung xác định tài sản thực tế ngày 25/10/2018, ông Tiêu Văn Đ và ngƣời đại diện hợp pháp của UBND xã C đ cùng nhau thống nhất số lƣợng đất đƣợc thu gom làm nguyên liệu sản xuất gạch của ông Đ là 9.848m3 và tổng diện tích bãi ông Đ đ san lấp là 45.402m2, độ sâu san lấp xác định tại 02 điểm hai đầu là 4,2m và 3,5m. Tại biên bản thẩm định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định tổng diện tích bãi san lấp là 46.392m2. Tại cấp phúc thẩm, các đƣơng sự đều xác định có sự tăng lên về diện tích san lấp so với biên bản bổ sung ngày 25/10/2018 là do sai số trong đo đạc trƣớc giữa ông Đ và UBND xã C tự đo bằng thƣớc dây, Tòa án thẩm định đo bằng máy và đều thống nhất diện tích ông Đ đ san lấp là 46.392m2. Các đƣơng sự cũng thống nhất với nhau về cách xác định khối lƣợng cát san lấp nhƣ thẩm định của Tòa án cấp sơ thẩm và khối lƣợng cát ông Đ đ mang đi khỏi bãi là 14.077m3.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ và UBND xã C cho rằng trên diện tích đất bãi ông Đ thuê có 07 chân lò gạch thủ công của các chủ lò gạch cũ để lại và một số th ng vũng đ bị đào sâu. Tòa án cấp phúc thẩm đ c ng các đƣơng sự tiến hành kiểm tra lại hiện trạng diện tích đất b i trên và các bên đều xác định không có 07 chân lò gạch cũ nhƣ xác minh của Viện kiểm sát; có 03 phần đất bị đào sâu thành ao thùng (sâu 4m) với tổng diện tích là 4446m2 nhƣng các đƣơng sự đều xác định sở dĩ có 03 ao th ng đó là do ông Đ đ khai thác 14.077m3 cát mang đi và cấp sơ thẩm đ trừ đi khối lƣợng cát này vào tổng khối lƣợng cát ông Đ đ san lấp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Tiêu Văn Đ đ san lấp cát trên diện tích bãi rộng 46.392m2 với tổng khối lƣợng cát san lấp và đất nguyên liệu còn 164.824,8m3 là phù hợp với kết quả xem xét, thẩm định, phù hợp với sự thống nhất của các bên về khối lƣợng cát san lấp xác định tại biên bản (bổ sung) ngày 25/10/2018 nên kháng cáo của UBND xã C và kháng nghị của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với nội dung này không đƣợc chấp nhận.

Về xác định chủ sở hữu tài sản: Ngƣời đại diện của UBND xã C kháng cáo cho rằng ông Đ đ khai thác đất quá độ sâu cho phép nên việc ông Đ san lấp cát là bù vào phần đ khai thác quá để trả lại mặt bằng cho địa phƣơng. Tuy nhiên, tại thời điểm UBND xã C cho ông Đ thuê đất, hai bên chỉ giao diện tích, không xác định hiện trạng mặt bằng thuê. Các đƣơng sự đều thừa nhận tại thời điểm ông Đ nhận diện tích đất bãi thì mặt bãi có nhiều vị trí trũng sâu nhƣng không xác định đƣợc cụ thể vị trí nào (do các chủ lò gạch trƣớc đ khai thác đất để làm gạch . Điều này phù hợp với lời khai của những ngƣời làm chứng (ông Hạt, ông Sơn . Trong khi đó các bên đƣơng sự đều thừa nhận ông Đ đ san lấp cát trên diện tích bãi rộng 46.392m2 với tổng khối lƣợng cát san lấp và đất nguyên liệu còn là 164.824,8m3. Vì vậy có cơ sở xác định khối lƣợng đất, cát này là tài sản hợp pháp của ông Đ nên UBND xã C có trách nhiệm trả lại tài sản cho ông Đ.

Trên cơ sở ý kiến của cơ quan chuyên môn Sở Tài nguyên và môi trƣờng tỉnh Hải Dƣơng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hải Dƣơng , ý kiến của UBND huyện T1, HĐXX thấy hiện trạng diện tích b i đang tranh chấp giữa ông Đ và UBND xã C cách chân đê 200m, cách mép sông Thái Bình15m; xung quanh khu vực b i này đ có các ruộng nuôi rƣơi, ao nuôi cá đƣợc đào sâu so với mặt bãi đang tranh chấp từ 2m đến 4m. Do đó, HĐXX chấp nhận cho ông Đ đƣợc di dời tài sản của mình là cát san lấp, đất nguyên liệu ra khỏi bãi Toại An, xã C, huyện T1 nhƣng việc di dời phù hợp với hiện trạng và phải đảm bảo an toàn cho hành lang đê điều, dòng chảy theo quy định của Luật đê điều và các điều 14, 15 Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 quy định về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông. Sau khi di dời đất cát theo các quy định nhƣ trên, nếu khối lƣợng đất cát đƣợc di dời chƣa đủ 164.824,8m3 thì UBND xã C còn phải trả ông Đ khối lƣợng đất cát còn thiếu bằng tiền. Vì vậy kháng cáo của UBND xã C và kháng nghị của VKSND huyện Tứ Kỳ cho rằng ông Đ đ hết thời hạn thuê đất, không đƣợc gia hạn tiếp và đ thu hồi (thanh lý hợp đồng) thuộc trƣờng hợp nhà nƣớc thu hồi đất không phải bồi thƣờng đối với tài sản gắn liền với đất theo khoản 10 Điều 38, điểm a khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 43 Luật đất đai là không đúng nên không đƣợc chấp nhận.

Về việc định giá tài sản: Tòa án cấp sơ thẩm đ căn cứ vào bảng giá vật liệu xây dựng tháng 11 năm 2020 tại tỉnh Hải Dƣơng và xác định giá trị cát san lấp là 150.000 đồng/m3 là không đúng theo bảng giá, giá cát san lấp tại huyện T1 là 116.000 đồng/m3). Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, các đƣơng sự đều thống nhất xác định giá trị đất, cát san lấp là 116.000 đồng/m3. Việc tự định giá của các đƣơng sự là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận, kháng cáo của UBND xã C đối với nội dung này là có căn cứ. Do đó, nếu khối lƣợng đất cát mà ông Đ di dời theo quy định mà không đủ thì UBND xã C có trách nhiệm thanh toán trả cho ông Đ giá trị đất, cát san lấp bằng tiền với giá 116.000 đồng/m3.

Từ những nhận định trên, HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của UBND xã C, chấp nhận một phần kháng nghị của VKSND huyện Tứ Kỳ, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của ông Đ đƣợc chấp nhận nên UBND xã C phải chịu án phí sơ thẩm dân sự. Tuy nhiên, đây là vụ án tranh chấp quyền sở hữu (kiện đòi tài sản) thuộc trƣờng hợp xác định án phí không giá ngạch theo điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội nhƣng Tòa án cấp sơ thẩm lại buộc UBND xã C phải chịu án phí có giá ngạch với mức án phí 132.723.720đồng là không đúng. Do đó cần chấp nhận kháng nghị của VKSND huyện Tứ Kỳ, buộc UBND xã C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Kháng cáo của UBND xã C đƣợc chấp nhận một phần nên UBND xã C không phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.

Các nội dung khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của UBND xã C và một phần kháng nghị của VKSND huyện Tứ Kỳ, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ:

Căn cứ các điều 164, 169, 170, 256, 600 của Bộ luật dân sự năm 2005; các điều 26, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23 Luật đê điều; Điều 14, Điều 15 Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ quy định về quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, b i sông; điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định 43/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nƣớc; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.

Xử:

1. Xác định khối lƣợng cát san lấp và đất nguyên liệu của ông Tiêu Văn Đ trên diện tích 46.392m2 tại bãi Toại An, xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng còn lại là 164.824,8m3 ở 02 khu vực: Khu vực số 1 đƣợc giới hạn bởi các điểm A1,A2,A3,A4,A5,A6,A7,A8,A9,A10,A11,A12,A13,A14 đến A1; khu vực số 2 đƣợc giới hạn bởi các điểm A15,A16,A17,A18,A19,A20 đến A15 (vị trí, hình thể, kích thước của từng khu vực theo sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tiêu Văn Đ: Ông Đ đƣợc quyền di dời khối lƣợng đất, cát ra khỏi diện tích 46.392m2 bãi Toại An, xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng. Ông Đ và UBND xã C có trách nhiệm phối hợp di dời khối lƣợng đất cát trên theo đúng quy định của Luật đê điều và Nghị định số 23/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ. Trƣờng hợp khối lƣợng đất, cát di dời theo quy định trên mà không đủ 164.824,8m3 thì UBND xã C, huyện T1 phải thanh toán giá trị khối lƣợng đất cát còn thiếu cho ông Đ bằng tiền với giá 116.000 đồng/m3.

3. Về tiền chi phí định giá, đo đạc tài sản: Buộc UBND xã C trả cho ông Đ số tiền 7.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ trả tiền mà chậm thi hành án, thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: UBND xã C, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. UBND xã C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà UBND xã C đ nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0010020 ngày 05/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, UBND xã C đ thực hiện xong án phí sơ thẩm dân sự.

Hoàn trả ông Tiêu Văn Đ số tiền 57.932.500đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0009795 ngày 12 tháng 5 năm 2020 và số tiền 10.300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2017/0009825 ngày 02 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

5. Các nội dung khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị, không bị HĐXX sửa có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ