vanban.org

Bản án 17/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 12/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong thời gian giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/HS-ST
Ngày 12-3-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Khắc Hòa;

2. Ông Trần Văn Dân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Văn H, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1996 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Trần Thị Ngọc L; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/11/2020 cho đến nay; có mặt.

Bị hại:

Ông Trần Minh Tr, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ 9, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; đã chết.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Minh Trí:

Chị Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là con ruột của ông Tr; có mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH giao nhận vận tải xuất nhập khẩu;

Địa chỉ: 62 đường số 6, khu phố 5, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Văn H – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H: Ông Đặng Cao L, sinh năm 1979; nơi cư trú: 1/1 hẻm 2, khu phố 5, đường H, phường 1, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 26/02/2021); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 29/9/2020, Lê Văn H điều khiển xe ô tô tải đông lạnh biển số 51D-361.81 thuộc sở hữu của Công ty trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải xuất nhập khẩu N, vận chuyển thịt trâu đông lạnh từ Cửa hàng phân phối thực phẩm đông lạnh K tại khu phố 3, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh đến cửa khẩu T thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giao sang Campuchia. Cùng đi trên xe có anh Đặng Cao L sinh năm 1979 ngụ khu phố 5, phường 1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là nhân viên phụ trách kinh doanh ngồi bên ghế phụ lái.

Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, H điều khiển xe lưu thông trên đường Tỉnh lộ 788 theo hướng Ngã tư H về Ngã ba L đoạn thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi đến đoạn thuộc tổ 9, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì H phát hiện ông Trần Minh Tr sinh năm 1968 ngụ tổ 9, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh đang điều khiển xe mô tô biển số 70K1-276.22 lưu thông cùng chiều phía trước trong tình trạng không đội mũ bảo hiểm nên H giảm tốc độ, bấm còi báo hiệu nhưng do ông Tr bị câm điếc bẩm sinh nên không nghe được. Thấy ông Tr điều khiển xe qua phần đường bên trái hướng đi, nên H cho xe vượt lên bên phải xe mô tô do ông Tr. Khi đầu xe ô tô do H điều khiển qua khỏi đầu xe mô tô do ông Tr điều khiển thì đầu tay lái bên phải của xe ông Tr va chạm vào thùng xe bên trái của xe ô tô do H điều khiển. Sau va chạm, ông Tr cùng xe mô tô ngã xuống đường. Tai nạn xảy ra làm ông Tr bị chấn thương sọ não, được đưa đến Bệnh viện C cấp cứu. Đến ngày 11/10/2020, ông Tr tử vong.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ việc xảy ra trên Tỉnh lộ 788 đoạn thuộc tổ 9, ấp H, Xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Mặt đường bằng phẳng rộng 7m, có vạch sơn phân tuyến; đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, không có biển báo giao thông. Chọn lề bên phải hướng đi từ Ngã tư H đến Ngã ba L làm chuẩn, và trụ điện số 42P làm điểm mốc để tiến hành đo đạc các dấu vết. Đo điểm mốc từ trụ điện 42P đến trục trước bên trái xe ô tô 51D-361.81 là 18m. Xe ô tô 51D-361.81 trong trạng thái đầu quay về hướng Ngã ba L, đuôi xe quay về hướng Ngã tư H. Đo trục trước, trục sau bên phải xe ô tô 51D-361.81 vào lề chuẩn lần lượt là 0,8m và 0,9m. Đo trục sau xe ô tô 51D-361.81 về hướng Ngã tư H đến trục trước xe mô tô 70K1-276.22 là 57,25m. Xe mô tô 70K1-276.22 ngã sang phải nằm song song mặt đường đầu xe quay về hướng Ngã ba L, đuôi xe quay về hướng Ngã tư H. Đo trục trước, trục sau xe mô tô 70K1-276.22 lần lượt là 5m và 4,7m.

Kết quả ghi nhận nồng độ cồn của ông Trần Minh Tr vào ngày 29/9/2020 tại Bệnh viện Đa khoa T là 343mg/100ml máu.

Kết quả đo nồng độ cồn qua hơi thở của Lê Văn H là không có nồng độ cồn trong hơi thở (được Công an huyện T lập biên bản ghi nhận vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 29/9/2020)

Kết quả giám định: Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 173/2020/TT ngày 26/10/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: Ông Trần Minh Tr chết do chấn thương sọ não.

Trong quá trình điều tra, Lê Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi vụ việc xảy ra, Lê Văn H cùng với Công ty trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải xuất nhập khẩu N đã bồi thường cho gia đình ông Tr số tiền 80.000.000 đồng.

Lê Văn H đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự vào năm 2017.

* Vật chứng vụ án: 01 giấy phép lái xe lái xe ô tô hạng C, số 580171002945 do Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 01/4/2019 mang tên Lê Văn H.

* Kê biên tài sản: Lê Văn H không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

* Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Bích D sinh năm 1994 ngụ ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh là con gái ông Trần Minh Tr đã nhận 80.000.000 đồng tiền bồi thường từ Công ty trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải xuất nhập khẩu N và bị cáo Lê Văn H. Chị D không có yêu cầu gì thêm và đồng thời có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKSTB, ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn H mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lê Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp của ông Trần Minh Tr vắng mặt.

Người đại diện của bị đơn dân sự ông Đặng Cao L trình bày: Công ty đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Lê Văn H trả lại số tiền này.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, vì bị cáo còn có cha mẹ và 02 em ở nhà ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 16 giờ ngày 29/9/2021, bị cáo Lê Văn H có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô tải đông lạnh biển số 51D-361.81 thuộc sở hữu của Công ty TNHH giao nhận vận tải xuất nhập khẩu N lưu thông trên đường tỉnh lộ 788 theo hướng ngã tư xã H về ngã ba L đoạn thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi đến đoạn đường thuộc tổ 9, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh Lê Văn H điều khiển vượt lên bên phải và va chạm với xe mô tô biển số 70K1-276.22 do ông Trần Minh Tr điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Tai nạn xảy ra làm ông Tr bị chấn thương sọ não, được đưa đi cấp cứu đến ngày 11/10/2020 ông Tr tử vong. Bị cáo điều khiển xe đã vi phạm khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Văn H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 10/CT-VKSTB, ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử bị cáo mức án tương xứng.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng để khắc phục một phần thiệt hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bồi thường thiệt hại:

Gia đình bị hại ông Trần Minh Tr đại diện là chị Nguyễn Thị Bích D đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại của bị cáo 10.000.000 đồng và của Công ty Công ty TNHH giao nhận vận tải xuất nhập khẩu N 70.000.000 đồng. Ghi nhận gia đình ông Tr không yêu cầu công ty và bị cáo Lê Văn H bồi thường gì thêm.

Xử lý vật chứng: Cần tuyên trả cho bị cáo Lê Văn H 01 giấy phép lái xe lái xe ô tô hạng C, số 580171002945 do Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 01/4/2019 mang tên Lê Văn H.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/3/2021) về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong thời gian giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên trả cho bị cáo Lê Văn H: 01 giấy phép lái xe lái xe ô tô hạng C, số 580171002945 do Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 01/4/2019.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ