vanban.org

Bản án 17/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 19/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Thanh T phạm tội “Bắt người trái pháp luật”

Xử phạt bị cáo Triệu Thanh T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/4/2021). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bắt người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Triệu Thanh T phạm tội “Bắt người trái pháp luật”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/HS-ST
Ngày 19-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thành Ý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Xuân Hoàng

Ông Nguyễn Đức Toàn

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2021/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 03 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2021/HSST-QĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Triệu Thanh T, sinh năm 1970, tại huyện Châu Thành, Sóc Trăng; nơi cư trú: số 246, đường X, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Công T1 (chết) và bà Khưu Thị L (chết); có vợ là Dương Thị Lệ H và 02 người con (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1994); tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: từ trước đến nay bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự; bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Khánh K, sinh năm 1974

Nơi cư trú: Số 262, đường Xà Lan, khóm 5, phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Luật sư Hoàng Văn Q, Văn phòng Luật sư Hoàng Q, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng.

Địa chỉ: Số 25/28 đường L, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Triệu Thanh T1, sinh năm 1992

Địa chỉ: số 246, đường Xà Lan, khóm 5, phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

2. Trương Kiên M, sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp An Trạch, xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Trần Thị Kim G. Vắng mặt

2. Triệu Thị Diễm Y. Vắng mặt

3. Trần Thị Minh D. Vắng mặt

4. Ngô Văn G. Vắng mặt

5. Dương Thị L. Có mặt

6. Triệu Thành T2. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Triệu Thanh T là cha ruột của Triệu Thị Diễm Y, bị cáo T nghe Trần Thị Kim G (bạn của Diễm Y) kể lại sự việc Diễm Y có quan hệ tình cảm nam nữ với anh Nguyễn Khánh K đã có vợ con, nên bị cáo T kêu Kim G theo dõi Diễm Y, khi nào Diễm Y và anh K hẹn gặp nhau ở đâu thì gọi điện thoại cho bị cáo T biết.

Vào khoảng 12 giờ ngày 25/6/2020, bị cáo Triệu Thanh T điện thoại kêu Trương Kiên M điều khiển xe ô tô tải biển số kiểm soát 83C-075.36 chở T đến thành phố Cần Thơ để bắt bò, M đồng ý, khi đến địa phận thành phố Ngã Bảy thì T nhận được cuộc gọi của Kim G nói là Diễm Y và anh K hẹn gặp nhau ở Ngã Bảy, T kêu Kim G theo dõi để biết địa điểm Diễm Y và anh K gặp nhau rồi thông báo cho T biết. Kim G thuê xe ô tô 7 chỗ của Huỳnh Hữu Tâm để đi theo Diễm Y, khi đi Tâm rủ thêm 02 nam thanh niên không rõ lai lịch đi cùng, đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, thì T tiếp tục nhận được cuộc gọi của Kim G nói là Diễm Y và anh K gặp nhau tại khách sạn Minh Đức thuộc ấp Long Hòa A1, xã Long Thạnh, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Thời điểm này xe của T đã chạy qua khỗi khách sạn Minh Đức đến thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, T kêu M điều khiển xe quay lại khách sạn Minh Đức, đến nơi M đậu xe trước cửa khách sạn, T đi vào bên trong khách sạn thì gặp Diễm Y đang ngồi khóc, anh K, Kim G, Tâm và 02 nam thanh niên đang đứng trước sảnh khách sạn, T đi đến chỗ anh K đang đứng và dùng tay đấm nhiều cái vào mặt của anh K, tiếp theo T dùng 02 tay nắm, kéo 02 tay của anh K ra phía sau, anh K nói “gãy tay tao T, gãy tay tao”, T lấy sợi dây luộc màu đen từ trong túi quần trói 02 tay anh K lại, trong lúc trói anh K thì T lấy 02 chiếc điện của anh K gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu đen bạc. Nghe anh K nói đau và sợ anh K bị gãy tay nên M can ngăn không cho T trói anh K, nhưng không ngăn được, trói anh K xong T kêu anh K lên xe ô tô tải 83C - 075.36 để chở anh K về nhà của T mục đích cho người nhà anh K và mọi người biết việc anh K đã có vợ con mà dụ dỗ Diễm Y vào khách sạn, khi đi ra đến xe M kêu T và anh K qua xe 7 chỗ của Huỳnh Hữu Tâm nhưng T không đồng ý và nói với M “đi xe nào về xe đó”, sau đó T và anh K lên xe M chở về nhà T, Kim G, Diễm Y và 02 đối tượng nam lên xe Tâm chở chạy theo xe của M, trên đường đi thì dây trói tay của anh K duộc ra, về đến nhà của T, T và anh K bước xuống xe, khi anh K vừa bước xuống thì Triệu Thanh T1 là anh ruột của Diễm Y chạy đến dùng tay đánh vào mặt của anh K nhiều cái, anh K sợ bị đánh nên nhảy lên xe của M, lúc này ông Triệu Thành T2 là anh ruột ông T, kêu ông T chở anh K quay lại khách sạn Minh Đức để trình báo Công an xã Long Thạnh giải quyết. T kêu M điều khiển xe chở T và anh K quay lại khách sạn Minh Đức, ông Tài đi cùng với Diễm Y, Kim G, Tâm và 02 nam thanh niên đến Công an xã Long Thạnh để trình báo sự việc, khi nghe trình báo việc ông K đã có vợ con nhưng dụ dỗ Diễm Y vào khách sạn khi Diễm Y đã trên 18 tuổi thì Công an xã Long Thạnh không thụ lý mà hướng dẫn nhóm người của Diễm Y đến Công an phường 7, thành phố Sóc Trăng trình báo sự việc. Sau đó, T, Diễm Y đến Công an Phường 7, thành phố Sóc Trăng trình báo sự việc, tại Công an phường 7, T đã giao nộp 02 chiếc điện thoại mà T đã lấy của K trước đó. Đến ngày 29/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng chuyển tin báo đến Công an huyện Phụng Hiệp thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý như sau:

Trả cho chủ sở hữu gồm: Trả cho Nguyễn Khánh K 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu đen bạc bị bể màn hình; Trả cho Triệu Thị Diễm Y 01 điện thoại di động hiệu Starlight; Trả cho Triệu Thanh T 01 điện thoại di động Nokia màu đen.

Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp quản lý: 01 sợi dây luộc màu đen, đường kính 0,5cm, dài 04m.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Khánh K yêu cầu bị cáo Triệu Thanh T bồi thường sức khỏe và tinh thần số tiền 4.000.000 đồng. Bị cáo T đã bồi thường 4.000.000 đồng, anh K đã nhận tiền và tự nguyện viết đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với T.

Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-HPH, ngày 21 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Triệu Thanh T về tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, kiểm sát viên đề nghị:

-Về điều luật:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 157, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

-Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Triệu Thanh T từ 06 đến 09 tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy một sợi dây luộc màu đen đường kính 0,5cm, dài 04m.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày quan điểm bảo vệ: Về trách nhiệm dân sự phía bị hại đã bãi nại và không có yêu cầu gì, đồng thời cũng thống nhất với điều luật và mức án của Viện kiểm sát đề nghị.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo nhìn nhận toàn bộ hành vi phạm tội và có yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Từ đó, đã có căn cứ kết luận: Bị cáo Triệu Thanh T chỉ xuất phát từ nguyên nhân nghi ngờ người bị hại Nguyễn Khánh K có quan hệ tình cảm nam, nữ với Triệu Thị Diễm Y (là con gái của bị cáo), từ đó, khi nhận được cuộc điện thoại của Trần Thị Kim G báo lại là bị hại Nguyễn Khánh K và Triệu Thị Thu Diễm hẹn nhau vào khách sạn Minh Đức thuộc ấp Long Hòa A1, xã Long Thạnh, huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang, cùng lúc này bị cáo cùng Trương Kiên M đi xe ô tô 7 chổ chở bị cáo từ Sóc Trăng lên cần Thơ để mua bò, lúc này bị cáo kêu Trương Kiên Nhẩn điều khiển xe 7 chổ đến khách sạn Minh Đức. Khi đến khách sạn thấy Diễm Y khóc và có mặt bị hại Nguyễn Khánh K tại khách sạn, bị cáo dùng tay đánh nhiều cái vào mặt bị hại, sau đó bị cáo nắm kéo hai tay bị hại ra phía sau và lấy dây luộc màu đen trong túi quần quấn trói hai tay bị hại lại và đẩy bị hại lên xe sau đó kêu M chở về nhà bị cáo ở Sóc Trăng, mặc dù người bị hại không đồng ý. Khi về đến Sóc Trăng, phía người thân gia đình bị cáo kêu chở bị hại trở lại khách sạn Minh Đức để trình báo chính quyền địa phương nơi xảy ra sự việc, do sự việc không thuộc thẩm quyền của địa phương nên bị cáo kêu M chở về Công an phường 7, thành phố Sóc Trăng trình báo sự việc.

Bị cáo là người không có thẩm quyền, không có chức năng hoạt động của nhà nước nhưng chỉ vì lý do cá nhân mà thực hiện hành vi bắt giữ người trái phép đối với người bị hại Nguyễn Khánh K. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật”, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp truy tối bị cáo về tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ do nghi ngờ bị hại có mối quan hệ bất chính với con gái của bị cáo, lẽ ra bị cáo phải nhờ cơ quan chức năng hoặc chính quyền địa phương can thiệp giải quyết hoặc giải quyết xử sự một cách đúng đắn theo quy định của pháp luật; ngược lại chỉ vì thỏa mãn cơn tức giận vì lý do cá nhân mà bị cáo đã cố ý trực tiếp đánh người bị hại nhiều cái rồi dùng dây luộc trói người bị hại đẩy lên xe ô tô 7 chỗ chở về Sóc Trăng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cũng ý thức được rằng bị cáo là người không có chức năng, thẩm quyền mà ngang nhiên bắt giữ người trái pháp luật là pháp luật nghiêm cấm, nhưng chỉ vì lý do cá nhân mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội; do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với hậu quả do chính hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do các nhân của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Đối bị cáo cần có mức án tương xứng với hậu quả và hành vi của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong vụ án này bị cáo phạm tội cũng có phần do lỗi của người bị hại gây ra do có mối quan hệ tình cảm nam nữ không rõ ràng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay không có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại số tiền 4.000.000 đồng, người bị hại đã nhận đủ tiền đồng thời có đơn bãi nại và có yêu cầu xin giảm nhẹ mức án cho bị cáo; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà xử bị cáo bằng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe bị cáo.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng điều luật, về hình phạt cũng như xử lý vật chứng là đúng với quy định của pháp luật và có cùng nhận định với Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét ý kiến trình bày của luật sư Hoàng Văn Quyết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng cũng như mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, xét thấy đề nghị của luật sư là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi của Trương Kiên M, Trần Thị Kim G, Huỳnh Hữu Tâm không có vai trò đồng phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Một sợi dây luộc màu đen đường kính 0,5cm, dài 04m là công cụ phạm tội và không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 157, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Triệu Thanh T.

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Thanh T phạm tội “Bắt người trái pháp luật”

Xử phạt bị cáo Triệu Thanh T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/4/2021). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy một sợi dây luộc màu đen đường kính 0,5cm, dài 04m.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ