- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh H phạm tội “Giữ người trái pháp luật” và “Cướp giật tài sản”. - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Giữ người trái pháp luật” và “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HS-ST Ngày: 22 - 3- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thủy.
Ông Đào Văn Rạng.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và ngày 22 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2021/TLST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2021/HSST-QĐ ngày 03 tháng 03 năm 2021đối với.
* Bị cáo: Trần Mạnh H - Sinh năm 1980 tại tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Đội xx, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12 giới tính: Nam; con ông Trần Thanh M, sinh năm 1954 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1953, cả hai đang cư trú tại đội xx, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; gia đình có 04 anh em, H là con thứ 2; có vợ là Trần Thị N, sinh năm 1982, đã ly hôn; có 01 con, sinh năm 2006, hiện đang ở với mẹ.
- Tiền án:
+ Ngày 26/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xử phạt 15 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”;
+ Ngày 05/6/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xử phạt 9 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Ngày 10 tháng 4 năm 2012, bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng theo Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục số 494/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định;
+ Ngày 05 tháng 4 năm 2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo Trần Mạnh H bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/11/2020, đến ngày 05/12/2020 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nghĩa Hưng cho đến nay; có mặt.
* Người bị hại:
1. Công ty xăng dầu Hà Nam Ninh; địa chỉ: 143 Trần Nhân Tông, phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định. Đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Đào Ng – Chủ Tịch kiêm giám đốc công ty.
Đại diện theo uỷ quyền của ông Lưu Đào Ng: ông Đặng Quốc V – Nhân viên bán hàng; đại chỉ: 2/681 Trần Nhân Tông, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định; vắng mặt.
2. Cháu Trần Anh T, sinh ngày 18/02/2008; nơi cư trú: xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Đại diện theo pháp luật của cháu Trần Anh T: Anh Trần Văn Tr, sinh năm 1976 và chị Đặng Thị H, sinh năm 1972; nơi cư trú: Đội x, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt .
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Trần Anh T: Bà Trần Thị Ngọc – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nam Định; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Chị Trần Thị Huyền Trg, sinh năm 1981; vắng mặt.
2. Bà Phạm Thị Nh, sinh năm 1965; vắng mặt.
3. Ông Trần Văn V, sinh năm 1969; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 25/11/2020, Trần Mạnh H điều khiển xe mô tô không đeo biển số đến cửa hàng xăng dầu Petrolimex số xx ở xóm x, xã PT, huyện N để đổ xăng. Khi đi H có mang theo 01 con dao bài để ở hõm xe. Do đồng hồ báo xăng của xe hỏng nên H xuống xe, yêu cầu anh Đặng Quốc V (là nhân viên bán xăng) đổ đầy bình xăng xe mô tô, hết 8.000 đồng. H ngồi lên xe mô tô, đưa cho anh V 10.000 đồng. Khi anh V lấy tiền để trả lại, H nhìn thấy trên tay anh V đang cầm tiền nên nảy sinh ý định cướp giật số tiền trên. H dùng tay phải giật số tiền 3.700.000 đồng trên tay trái của anh V; lúc này xe mô tô không nổ máy. Anh V chạy đến định giằng lại số tiền trong tay H nhưng không được. Anh V tri hô: “Cướp, cướp”. Lúc đó, H nhìn thấy có xe ô tô khách vào đổ xăng. Do anh V hô to, H sợ những người trong xe khách xuống bắt và đánh nên H dùng tay phải rút trong ba lô để ở hõm xe con dao bài và chuyển sang tay trái cầm để phòng thủ (lúc này tay trái H đang cầm số tiền 3.700.000 đồng). Sau đó, H mở ổ khóa điện, nổ máy rồi điều khiển xe bỏ chạy. Anh V ném biển báo tại cây xăng về phía H làm phần yếm xe bên trái phía trước của xe mô tô H đang điều khiển bị vỡ hoàn toàn. Khi đi đến khu vực đội x, xã T, huyện N, H bị ngã xe, xe mô tô bị hỏng, thấy có người qua lại, H nghĩ hành vi cướp giật tiền bị phát hiện, bị công an truy bắt nên H cất hết số tiền cướp giật được vào trong ví màu đen của H, rồi dắt xe mô tô giấu vào trong vườn chuối của ông Đào Văn Th ở đội x, xã T, huyện N (nhà ông Th không đóng cửa, gia đình ông Th không ai biết việc H giấu xe mô tô). Sau đó, H đi bộ sang vườn ngô nhà ông Trần Văn Thn, ném số tiền 3.700.000 đồng đựng trong chiếc ví màu đen của H ra vườn ngô nhà ông Thn.
Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, H tay phải cầm con dao bài đã chuẩn bị trên, tay trái xách ba lô đi bộ sang nhà anh Trần Văn Tr, mục đích trốn để không bị truy bắt. Vào đến sân, H gặp cháu Trần Anh T sinh năm 2008 (là con đẻ của anh Tr) đang đứng ở hành lang trước cửa nhà. Thấy H tay cầm dao, cháu T hoảng sợ chạy vào gian phòng ngủ phía Tây, có 01 cửa chính đang mở, 02 cửa sổ đều đóng bên trong. Cháu T gọi anh Tr, H đuổi theo cháu T vào trong phòng ngủ, H dơ dao đe dọa đuổi anh Tr ra khỏi phòng, yêu cầu cháu T chốt cửa phòng và giữ cháu T bên trong, bắt cháu nằm trên giường và không cho cháu được kêu la, không được đi ra khỏi phòng. H dùng dao đập vỡ 01 bóng điện trong phòng và yêu cầu gia đình anh Tr đưa nước cho H uống. Đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 26 tháng 11 năm 2020, Công an huyện khống chế và bắt được H (thời gian Trần Mạnh H bắt giữ cháu T khoảng 6 giờ 15 phút). Thu giữ của H 01 con dao bài dài 42 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 29 cm; bản rộng nhất 7 cm; phần chuôi dao bằng gỗ màu trắng, dài 13 cm. (Bút lục: 61-82; 84-87; 93-119).
Anh Đặng Quốc V giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng 01 đĩa CD-R (700MB/80Min/52X), nhãn hiệu NEO ghi lại việc hành vi cướp giật của Trần Mạnh H (Bút lục: 8-10; 83; 125).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng tiến hành khám nghiệm hiện trường tại phòng ngủ nhà anh Trần Văn Tr: thu giữ 01 ba lô màu đen, có 02 quai đeo, phía trước ba lô có chữ: “Thủ đô vàng”, bên trong ba lô có 01 biển số xe mô tô 18S3-xxxx (Bút lục: 12-13); thu giữ tại nhà ông Đào Văn Th 01 xe mô tô nhãn hiệu WAYMAN, bị vỡ hoàn toàn phần yếm xe bên trái phía trước, sơn màu đỏ, không đeo biển số.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, Trần Mạnh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 13/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo về tội “ Giữ người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 và “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của bản thân.
Người bị hại là cháu Trần Anh T, người đại diện theo pháp luật của cháu T vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai: không yêu cầu H bồi thường trách nhiệm dân sự đối với cháu T và gia đình anh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phácho cháu Trần Anh T có quan điểm: Nhất trí với tội danh và Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo, thống nhất với quan điểm của gia đình cháu T là không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Công ty xăng dầu Hà Nam Ninh vắng mặt và có yêu cầu Trần Mạnh H phải bồi thường cho công ty số tiền 3.700.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Mạnh H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”; Xử phạt Trần Mạnh H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 55 để tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm 06 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: buộc bị cáo trả lại cho công ty xăng dầu Hà Nam số tiền 3.700.000 đồng và xử lý vật chứng; đề nghị áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về định tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy có đủ cơ sở xác định:
Về hành vi cướp giật tài sản: Khoảng 18 giờ 5 phút ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại cửa hàng xăng dầu Petrolimex số xx ở xóm x, xã PT, huyện N, bị cáo đã có hành vi cướp giật số tiền 3.700.000 đồng trên tay anh Đặng Quốc V là nhân viên bán xăng của Công ty xăng dầu Hà Nam Ninh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Về hành vi giữ người trái pháp luật: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 11 năm 2020 đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 26 tháng 11 năm 2020, bị cáo đã có hành vi dùng dao khống chế, đe dọa để giữ cháu Trần Anh T, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2008 trái pháp luật trong phòng ngủ phía Tây tại nhà anh Trần Văn Tr (anh Tr là bố đẻ của cháu Tú) thì bị bắt quả tang. Thời gian Trần Mạnh H bắt giữ cháu Tú khoảng 6 giờ 15 phút. Cháu Trần Anh T sinh năm 2008, chưa đủ 18 tuổi nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giữ người trái pháp luật” với tình tiết định khung hình phạt tăng nặng phạm tội với người dưới 18 tuổi theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng truy tố bị cáo về tội: “Giữ người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 và tội “ Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi bị cáo đã thực hiện xâm phạm quyền tự do thân thể của con người là một trong những nội dung quan trọng của quyền tự do của con người cũng như quyền tự do, dân chủ của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ.quyền, xâm phạm sở hữu về tài sản của người khác, là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tâm thần cho người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Mạnh H đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bố của bị cáo là ông Trần Thanh M là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng Huy chương chiến sỹ Giải phóng, Huân chương chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tập chung cải tạo đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo là người có điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là cháu Trần Anh T, người đại diện theo pháp luật của cháu T không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự, nên không đặt ra xem xét giải quyết; Công ty xăng dầu Hà Nam Ninh có yêu cầu bị cáo phải trả cho công ty số tiền 3.700.000 đồng, cần buộc bị cáo phải trả cho Công ty xăng dầu Hà Nam Ninh số tiền 3.700.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu WAYMAN, bị vỡ hoàn toàn phần yếm xe bên trái phía trước, sơn màu đỏ, không đeo biển số và biển số xe mô tô 18S3-xxxx, quá điều tra xác định xe mô tô và biển số xe trên là của chị Lại Thị C, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng đã trả lại cho chị C là chủ sở hữu
Đối với 01 con dao bài dài 42 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 29 cm; bản rộng nhất 7 cm; phần chuôi dao bằng gỗ màu trắng, dài 13 cm; 01 ba lô màu đen, có 02 quai đeo, phía trước ba lô có chữ: “Thủ đô vàng” là công cụ bị cáo gây án và tài sản không có giá trị của bị cáo nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Điều 106, Điều136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 357, Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Giữ người trái pháp luật” và “Cướp giật tài sản”.
2. - Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 02 năm 03 tháng tù về tội “ Giữ người trái pháp luật”.
- Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Quyết định hình phạt trong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội: Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội là 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2020.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho Công ty xăng Dầu Hà Nam Ninh số tiền đã chiếm đoạt là 3.700.000 đồng. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành mà Trần Mạnh H không trả số tiền nêu trên thì phải chịu lãi xuất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành.
4. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bài dài 42 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen, dài 29 cm; bản rộng nhất 7 cm; phần chuôi dao bằng gỗ màu trắng, dài 13 cm; 01 ba lô màu đen, có 02 quai đeo, phía trước ba lô có chữ: “Thủ đô vàng”.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; vắng mặt người bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại. Báo cho người có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Nghĩa Hưng; - Công an huyện Nghĩa Hưng; - Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Hưng; - UBND xã T; xã PT; - Các bị cáo; - Án văn + lưu hồ sơ; - Thi hành án phạt tù. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Văn Chủng |