- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HS - ST Ngày: 08/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Y Míp Niê - Giáo viên về hưu.
2/ Ông Nguyễn Văn Mười - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Bùi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2021/HSST ngày 02/02/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1977; Nơi sinh: tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Nủ K (chết); Con bà: Hờ Thị D (chết). Vợ là: Sùng Thị C, sinh năm 1979, hiện trú tại thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2005;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 15/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện K ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo đã thi hành xong; Ngày 27/3/2018 bị Công an huyện K ra Quyết định số 18/QĐ-XPHC, xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chưa chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ và tạm giam từ ngày 21/8/2020 cho đến nay. (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Vàng A C: Ông Hoàng Văn C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đăk Lăk.
Địa chỉ: 39 L, TP. B, tỉnh Đ. (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Nông Văn Đ, sinh năm 1997. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
2/ Lục Thanh B, sinh năm 1999. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
- Người làm chứng:
1/ Sùng A C, sinh năm 1972. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
2/ Giàng A N, sinh năm 1987. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vàng A C, trú tại thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ và đối tượng Nông Văn Đ, trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ là đối tượng nghiện ma túy nên quen biết nhau. Do đó, trưa ngày 20/8/2020, khi C đang ở nhà thì có một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đến và hỏi C, có mua ma túy không? C đồng ý và mua của người thanh niên này 01 gói ma túy (loại Hêroine) với giá là 100.000 đồng, sau khi mua xong, C sử dụng một phần, phần còn lại C gói lại và cất vào túi quần. Đến khoảng 17 giờ ngày 20/8/2020, Nông Văn Đ và Lục Thanh B đều trú tại thôn T, xã E, huyện K, đều là người nghiện ma túy ngồi uống rượu tại nhà của Đ thì Đ rủ B đi cùng đến nhà C nhờ C đi mua ma túy hộ để sử dụng, B đồng ý nên Đ điều khiển xe mô tô BKS 47E1-199.69 hiệu SIRIUS chở B đi đến nhà C, khoảng 17 giờ 30 phút, khi đến nhà C, Đ dừng xe ngoài đường, B đứng ngoài còn Đ đi vào nhà đưa cho C 200.000 đồng và nhờ C đi mua ma túy. C đi khoảng 20 phút thì quay lại và nói với Đ là không mua được ma túy, rồi trả lại 200.000 đồng cho Đ, lúc này C tiếp tục nói “chú còn một ít lấy lúc trưa, sử dụng chưa hết chú để lại cho cháu 100.000 đồng”, nghe vậy thì Đ đồng ý, C đưa gói ma túy cho Đ, khi Đ đang lấy tiền để trả thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên trái của Nông Văn Đ 01 gói ni lông màu vàng, bên trong có chất rắn màu trắng, số tiền 270.000 đồng; thu giữ trên tay Nông Văn Đ 01 mẩu giấy bạc (4x7cm); 01 xe mô tô của Đại BKS 47E1-199.69 hiệu SIRIUS. Thu giữ của Lục Thanh B số tiền 30.000 đồng và 01 điện thoại màu trắng hiệu OPPO và khám xét thu giữ tại tủ quần áo trong phòng ngủ của Vàng A C 03 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 786/GĐMT-PC09 ngày 27/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói ni lông màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,0545 gam, loại: Hêrôin.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 01/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố bị cáo Vàng A C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Vàng A C từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 0,0299 gam Heroine (hoàn lại sau giám định); 03 bơm kim tiêm; 01 mẩu giấy bạc (4x7cm). Tịch thu sung công số tiền 200.000 đồng của Nông Văn Đ, đây là số tiền Đ sử dụng để mua ma túy và trả lại cho: Lục Thanh B số tiền 30.000 đồng và 01 điện thoại màu trắng hiệu OPPO; trả lại cho Nông Văn Đ số tiền 70.000 đồng và xe mô tô của Đ BKS 47E1-199.69 hiệu SIRIUS.
Đối với Nông Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên qua kết quả giám định chưa đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng chưa có có tiền án, tiền sự gì về các tội ma túy, nên hành vi của Nông Văn Đ không cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 249 BLHS. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nông Văn Đ.
Miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Vàng A C đề nghị HĐXX xem xét tuyên phạt bị cáo mức án nhẹ nhất, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật vì bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa và không biết chữ.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bô hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận, bào chữa gì, chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm tái hòa nhập cộng đồng, phục vụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Năng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án, theo tài liệu thu thập được, lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng khác, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/8/2020, tại thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ, Vàng A C đã có hành vi bán trái phép ma túy 0,0545 gam Hêrôin cho Lục Thanh Đ, bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng bắt quả tang.
Như vậy hành vi của bị cáo Vàng A C đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội và chế độ quản lý về việc sử dụng chất ma tuý. Bị cáo nhận thức được hêrôin là chất ma túy gây nghiện làm hủy hoại đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm về hình sự. Song do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền mua ma túy thỏa mãn cơn nghiện nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/8/2020, bị cáo đã có hành vi bán trái phép ma túy cho Lục Thanh Đ. Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 15/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Năng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Sau khi chấp hành xong, quay về đại phương sinh sống, đến ngày 27/3/2018 bị Công an huyện Krông Năng ra Quyết định số 18/QĐ-XPHC, xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến nay bị cáo chưa chấp hành quyết định này. .
Vì vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, thể hiện thái độ, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, không biết chữ nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Đối với quan điểm của VKS nhân dân huyện Krông Năng về tội danh, về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Vàng A C là có căn cứ được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,0299 gam Heroine (hoàn lại sau giám định); 03 bơm kim tiêm; 01 mẩu giấy bạc (4x7cm); Tịch thu sung công số tiền 200.000 đồng của Nông Văn Đ, đây là số tiền Đại sử dụng để ma ma túy; Trả lại cho: Lục Thanh B số tiền 30.000 đồng và 01 điện thoại màu trắng hiệu OPPO; Trả lại cho Nông Văn Đ số tiền 70.000 đồng và xe mô tô của Đại BKS 47E1-199.69 hiệu SIRIUS.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với Nông Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên qua kết quả giám định chưa đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng chưa có có tiền án, tiền sự gì về các tội ma túy, nên hành vi của Nông Văn Đại không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điều 249 BLHS. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nông Văn Đ là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo được miễn nộp án phí do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Vàng A C 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 21/8/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,0299 gam Heroine (hoàn lại sau giám định); 03 bơm kim tiêm; 01 mẩu giấy bạc (4x7cm).
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng của Nông Văn Đ, đây là số tiền Đ sử dụng để ma ma túy.
Trả lại cho Lục Thanh B số tiền 30.000 đồng và 01 điện thoại màu trắng hiệu OPPO; trả lại cho Nông Văn Đ số tiền 70.000 đồng và xe mô tô của Đại BKS 47E1-199.69 hiệu SIRIUS.
(Đặc điểm như biên bản giao nhận ngày 01/2/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Năng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng và biên lai thu tiền số AA/2018/0001526 ngày 01/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Vàng A C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng; - THADS huyện Krông Năng; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HSVA, VPCQ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Trang |