vanban.org

Bản án 17/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 17/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:17/2021/HS-PT
Ngày: 17- 5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán:

Bà Ngô Thị Kim Châu

Ông Nguyễn Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ Lăng, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 14/2021/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Vỏ Thành T do có kháng cáo c a bị cáo Vỏ Thành T đối với Bản án hình sự s thẩm số: 02/2021/HS-ST ngày 14 tháng 01 năm 2021 c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

Bị cáo có kháng cáo:

Vỏ Thành T, sinh năm 1995 tại tỉnh T. N i cư trú: ấp V, xã H, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Con ông Vỏ Văn H và bà Phan Thị Thùy L; Vợ tên Nguyễn Thị Linh T; Con có 01 người, sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo Vỏ Thành T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi n i cư trú từ ngày 07/9/2020 đến nay tại ấp V, xã H, huyện C, tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do không có kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 08/07/2020, khi đang ở nhà tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh T thì Huỳnh Tấn G gọi điện thoại cho Vỏ Thành T kêu T rước G về nhà T, tọa lạc tại ấp Vĩnh L, xã Hòa T, huyện C, tỉnh T để ch i. Lúc này, T liền điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 84F6-5490 c a Nguyễn Văn S (cha vợ c a T) đến để rước G về nhà c a mình, ch i được một lúc thì T chở G về nhà c a G. Đến khoảng 02 giờ 45 phút, ngày 08/7/2020, G từ nhà đi đến chợ H mục đích lấy trộm tài sản c a người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến tiệm tạp hóa c a Nguyễn Thị Như B, tại ấp Bích T, xã H, huyện C, tỉnh T thì G thấy ổ khóa ngoài nên G kéo cửa hở một đoạn rồi chui vào bên trong. Vào đến n i, G quan sát không thấy ai trông coi nên G đi đến t , kéo giật ngăn t ra thì phát hiện có nhiều tiền và vàng, G lấy một bao nilong loại bao đựng gạo có sẵn trong tiệm rồi lấy tiền, vàng bỏ vào trong bao, sau đó G lên tầng 2 mở cửa rồi tẩu thoát ra ngoài. G đem tài sản trộm được cất giấu tại nhà mình, sau đó G gọi điện thoại kêu T đến rước về nhà c a T và nói “Hôm nay em trúng mánh được mười mấy triệu”, T liền hỏi “mày trúng mánh gì” thì G nói “mới lấy được bên đường D5”. Nghe điện thoại xong, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84F6-5490 đến rước G, về đến nhà c a T thì G đổ từ trong bao ra các tài sản vừa trộm được, khi thấy có nhiều tờ tiền mệnh giá nhỏ thì T biết G lấy trộm tài sản c a người khác và lấy ở tiệp tạp hóa nên T hỏi G lấy ở tiệm tạp hóa phải không thì G nói “ Em không có lấy trộm tại tiệm tạp hóa, em lấy bên đường D5, anh đừng hỏi nhiều lo điếm tiền đi chút nữa em cho tiền cà phê”. Sau khi kiểm đếm xong thì được số tiền 22.970.000 đồng và số vàng gồm: 01 (một) lắc đeo tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 8,5 chỉ; 01 (một) lắc đeo tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,0 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,0 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,7403 gam; 01 (một) chiếc bông tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 0,2 chỉ, ngoài ra còn nhiều tờ tiền mệnh giá nhỏ. G cho T số tiền 4.500.000 đồng, riêng vàng và số tiền còn lại thì G cất giữ.

Đến sáng ngày 08/7/2020, G đưa 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,0 chỉ; 01 (một) chiếc bông tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 0,2 chỉ và nhiều tờ tiền mệnh giá nhỏ cho T, kêu T bán số vàng nói trên và đổi tiền mệnh giá nhỏ sang mệnh giá lớn dùm sau đó G sẽ cho “tiền cà phê”, đồng thời G cho T 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,7403 gam để cho con c a T đeo. Lúc này, T kêu Nguyễn Thị Linh T (là vợ c a T) đi bán vàng và đổi tiền dùm, T có nói số tiền và vàng là c a G nhưng không cho T biết về nguồn gốc số tiền và vàng mà G có được là do trộm mà có. Khi T đi khỏi nhà thì G tiếp tục đưa và kêu T bán 01 (một) lắc đeo tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 8,5 chỉ; 01 (một) lắc đeo tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,0 chỉ, đồng thời cho Tài nhiều tờ tiền mệnh giá nhỏ còn lại trong bao (số tiền 2.067.500 đồng) rồi G mượn xe mô tô biển kiểm soát 84F6-5490 chạy đi ch i. Sau đó, T đi đến Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh tỉnh T đổi tiền được 1.992.000 đồng, T đưa thêm 8.000 đồng cho nhân viên ngân hàng để đổi lấy 2.000.000 đồng. Khi đổi tiền xong, T đến tiệm vàng V, tại khóm 2, phường 3, thành phố T, tỉnh T bán số vàng nói trên được 1.790.000 đồng. Có được tiền, T về đưa hết cho T cất giữ, đồng thời T đưa tiếp 02 lắc vàng nói trên cho T đến tiệm vàng tại thành phố T (T không rõ tên tiệm và địa chỉ cụ thể) bán được 21.850.000 đồng, số tiền có được T về đưa hết cho T cất giữ. Đến khoảng 05 giờ, ngày 08/7/2020, Nguyễn Thị Như B phát hiện bị mất trộm tài sản tại tiệm tạp hóa c a mình nên trình báo Công an xã H. Tại C quan điều tra thì Vỏ Thành T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình.

Tại kết luận giám định số 3716/C09B ngày 30/7/2020 c a Viện khoa học hình sự - Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố H kết luận: 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng gửi giám định có thành phần vàng (Au) 62,76%, bạc (Ag) 18,42%, khối lượng 1,7403gam.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 25/8/2020 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh T kết luận: 01 (một) lắc đeo tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 8,5 chỉ; 01 (một) lắc đeo tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,0 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,0 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,7403 gam; 01 (một) đôi bông tay, loại vàng 18k, có trọng lượng 0,4 chỉ c a Nguyễn Thị Như B tại thời điểm bị chiếm đoạt, trị giá 35.796.600 đồng.

- Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ: Số tiền 32.207.500 đồng do Vỏ Thành T giao nộp, 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,7403 gam; số tiền 18.110.000 đồng và 01 (một) xe mô tô biển số kiểm soát 84F6-5490, số khung VKVPCG0011L0000725, số máy VKV1P50FMG30104725 do Huỳnh Tấn G giao nộp. Đã trả lại cho Nguyễn Thị Như B: số tiền 50.309.500 đồng và 01 (một) sợi dây chuyền, loại vàng 18k, có trọng lượng 1,7403 gam; trả lại cho Nguyễn Văn S: 01 (một) xe mô tô biển số kiểm soát 84F6-5490 nói trên; trả lại cho Nguyễn Thị Linh T số tiền 8.000 đồng nên không xem xét xử lý.

Bị cáo Vỏ Thành T bị khởi tố và truy tố theo quy định pháp luật. Đối với Huỳnh Tấn G do chưa đ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Tại bản án hình sự s thẩm số 02/2021/HS-ST ngày 14/01/2021 c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T đã quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vỏ Thành T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 c a Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vỏ Thành T 01 (Một) năm tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án s thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Ngày 20/01/2021 bị cáo Vỏ Thành T có đ n kháng cáo bản án hình sự s thẩm số 02/2021/HS-ST ngày 14/01/2021 c a Tòa án nhân dân huyện C xin được hưởng án treo.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các tài liệu trong hồ s vụ án, phân tích nguyên nhân hậu quả và hành vi phạm tội c a bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát cho rằng án s thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Tòa án cấp s thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a bị cáo Vỏ Văn T, giữ nguyên bản án hình sự s thẩm c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

Lời nói sau cùng c a bị cáo Vỏ Thành T: Xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đ n kháng cáo c a bị cáo Vỏ Thành T là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Vỏ Thành T khai nhận vào khoảng 3 giờ 30 phút, ngày 08/7/2020 tại ấp V, xã H, huyện C, tỉnh T, sau khi Huỳnh Tấn G trộm cắp tài sản gồm tiền và vàng c a bị hại Nguyễn Thị Như B, với trị giá 62.826.100 đồng thì bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 84F6-5490 đến rước G về nhà bị cáo. Tại đây bị cáo cùng với G đếm vàng và tiền do G trộm cắp được mà có, bị cáo biết rõ đây là tài sản do G trộm c a người khác mà có nhưng bị cáo vẫn có hành vi giúp G trong việc đổi tiền (1.992.000 đồng) và bán vàng (số tiền 33.705.000 đồng) mà G trộm được. Đồng thời bị cáo T còn nhận 6.567.500 (sáu triệu năm trăm sáu mư i bảy ngàn năm trăm đồng) và 01 sợi dây chuyền, loại vàng 18K, có trọng lượng 1,7403 gam, trị giá 1.461.600 (một triệu bốn trăm sáu mư i mốt ngàn sáu trăm đồng) do G trộm mà có. Tổng số tiền mà bị cáo T tiêu thụ trong vụ án này là 43.726.100 đồng (bốn mư i ba triệu bảy trăm hai mư i sáu ngàn một trăm đồng); lời khai này c a bị cáo tại phiên tòa s thẩm là nhất quán nhau không thay đổi và lời khai c a bị cáo tại C quan điều tra (BL 108; 123; 125; 126) là do bị cáo tự khai không bị ép buộc, xúi dục, dụ dỗ hay bị đánh đập như vậy có căn cứ xác định các lời khai c a bị cáo là hoàn toàn khách quan, trung thực và phù hợp với các lời khai c a Huỳnh Tấn G, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tang vật chứng thu giữ được. Do đó, Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là chính xác, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, qua tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo biết rất rõ “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội c a bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp c a công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phư ng. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đ năng lực trách nhiệm hình sự và đ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ tài sản tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có nhưng vì hám lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tình hình trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có, trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh T thời gian gần đây xảy ra liên tục và rất nhiều, làm cho đời sống c a người dân không an tâm và rất phẩn nộ. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tư ng xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Xét thấy, Tòa án cấp s thẩm khi quyết định hình phạt đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên chỉ xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tình tiết nào mới theo pháp luật quy định để Hội đồng xét xử làm căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt c a Tòa án cấp s thẩm như đề nghị c a Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Về án phí: Bị cáo Vỏ Thành T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác c a bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QU T ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo Vỏ Thành T.

Giữ nguyên bản án hình sự s thẩm số: 02/2021/HS-ST ngày 14/01/2021 c a Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T.

Tuyên bố: bị cáo Vỏ Thành T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 c a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vỏ Thành T 01 (một ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về án phí: Bị cáo Vỏ Thành T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác c a bản án s thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ