vanban.org

Bản án 17/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Bảo Th1, sinh ngày: 25-4-20xx và Trần Phước Th2, sinh ngày: 01-11-20xx cho ông Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Trần Văn H không có yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2021/HNGĐ-ST
Ngày 08-4-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Thanh

Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 547/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1981. (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm: 1987. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 68/02 N, khu phố 4, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01-10-2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 98, ngày 12-10-2009. Quá trình chung sống, vợ chồng ông sống hạnh phúc đến khoảng tháng 6 năm 2019 thì ông phát hiện bà T có quan hệ tình cảm với người khác, thường xuyên bỏ nhà đi và cùng người này thuê nhà trọ để chung sống với nhau. Ông đã nhiều lần khuyên bảo và tha thứ cho bà, nhưng sau nhiều lần hứa hẹn bà T vẫn không thay đổi, tiếp tục thường xuyên qua lại với người này, sống không có trách nhiệm với chồng con làm cho mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Từ đó đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm không còn, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T.

Về con chung: Vợ chồng ông có 02 con chung tên Trần Thị Bảo Th1, sinh ngày: 25-4-20xx và Trần Phước Th2, sinh ngày: 01-11-20xx. Ông có nguyện vọng được nuôi hai con và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Công việc của ông là kinh doanh quán phở tại nhà, thu nhập bình quân 01 tháng khoảng 12.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến:

Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án luôn tuân thủ theo pháp luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng là nguyên đơn luôn chấp hành đúng pháp luật, riêng bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự .

Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà T tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với lý do bà T có quan hệ tình cảm với người khác, sống không có trách nhiệm với chồng con, vợ chồng ông đã ly thân hơn một năm nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau nên ông xác định không còn tình cảm với bà T. Lời trình bày của ông phù hợp với biên bản xác minh và đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân tại địa phương. Hơn nữa, bà T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà không đến Tòa làm việc và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của ông H. Chứng tỏ bà không thiết tha gì trong việc bảo vệ hạnh phúc gia đình của riêng mình, có thái độ bỏ mặc cuộc hôn nhân này. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Văn H.

Về con chung: Ông H có nguyện vọng xin được nuôi hai con và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Th1 và cháu Th2 (trên 07 tuổi) đều có nguyện vọng được ở với cha, hiện nay do ông H đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định, thu nhập của ông đủ khả năng lo cho các cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Trần Thị Bảo Th1, sinh ngày: 25-4-20xx và Trần Phước Th2, sinh ngày: 01-11-20xx cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông H không có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Bảo Th1, sinh ngày: 25-4-20xx và Trần Phước Th2, sinh ngày: 01-11-20xx cho ông Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Trần Văn H không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Ông Trần Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0022943 ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Ông Trần Văn H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ