- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn Đoàn Thị Thanh T và Đinh Trường S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh chị Đoàn Thị Thanh T đối với anh Đinh Trường S.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Đinh Trường S phải
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HNGĐ - ST Ngày: 21- 7- 2021 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xuân Thuận
2. Ông Trần Minh Khai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2021/TLST - HNGĐ ngày 25/02/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐST- DS ngày 07/7/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Thanh T, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đức H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
Bị đơn: Anh Đinh Trường S, sinh năm: 1995.
Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu TH, thị trấn Đ, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Đội 19, phân trại K1, trại giam Đồng Sơn, cục C10, Bộ Công an (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Người đại diện theo ủy quyền ông: Nguyễn Tất Th - Phó giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/02/2021 và bản tự khai ngày 26/03/2021 chị Đoàn Thị Thanh T trình bày: Tôi (Đoàn Thị Thanh T) và anh Đinh Trường S tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện không có ai ép buộc, trước khi hai gia đình tổ chức lễ cưới đã đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình vào ngày 08/11/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà bố mẹ chồng ở tiểu khu Th, thị trấn Đ, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình cho đến nay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Ngày 12/4/2020 anh Đinh Trường S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 08 năm tù giam thì chị Tâm thấy anh Sơn phải đi chấp hành hình phạt tù thời gian dài nên chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, để ổn định cuộc sống và yên tâm làm ăn chị Đoàn Thị Thanh T làm đơn xin ly hôn anh Đinh Trường S.
Bản tự khai ngày 10/6/2021 anh Đinh Trường S khai: Quá trình tìm hiểu để đi đến kết hôn đúng như lời khai của chị T. Hiện nay chị T làm đơn xin ly hôn anh Đinh Trường S không đồng ý.
Về con chung của vợ chồng: Chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S khai vợ chồng có một đứa con chung tên là Đinh Linh Hiểu L, sinh ngày: 16/05/2019 hiện đang sống cùng chị Đoàn Thị Thanh T. Sau khi ly hôn chị T và anh S đều có nguyện vọng xin được nuôi con. Chị T không yêu cầu anh S đóng góp tiền nuôi con hàng tháng.
Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Công nợ: Chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S thừa nhận vợ chồng có vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng),
Tại bản tự khai ngày 21/6/2021 của ông Thái Xuân L và lời trình bày của ông Nguyễn Tất Th được ông Thái Xuân L ủy quyền trình bày: Ngày 12/01/2020 anh Đinh Trường S và chị Đoàn Thị Thanh T có vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền: 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) theo chương trình cho vay hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn để chăn nuôi bò sinh sản, thời hạn trả cuối cùng vào ngày 12/01/2023. Quá trình sử dụng vốn vay hộ vay trả lãi hàng tháng đầy đủ, hiện còn nợ tổng số tiền đến ngày xét xử (21/7/2021) là: 50.113.000đ trong đó tiền gốc là: 50.000.000đ; tiền lãi là: 113.000đ. Hiện vợ chồng chị Đinh Thị Thanh T và anh Đinh Trường ly hôn Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa đề nghị Tòa án giải quyết khoản nợ vay của vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Án phí: Chị Đinh Thị Thanh T đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số 0000032 ngày 25/02/2021 nay xin chịu toàn bộ.
Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị Đoàn Thị Thanh T do anh Đinh Trường S đang chấp hành hình phạt tù nên Tòa án đã tiến hành ủy thác và anh Sơn đã có bản tự khai và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình phát biểu tại phiên tòa đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết chị Đoàn Thị Thanh T đều có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án còn anh Đinh Trường S hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Đinh Trường Sơn. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử chị Đoàn Thị Thanh T được ly hôn anh Đinh Trường S. Về con chung đề nghị áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Đinh Linh Hiểu L, sinh ngày: 16/05/2019 cho chị Đoàn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng và áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình buộc anh Đinh Trường S phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con theo quy định của pháp luật. Tài sản chung: Vợ chồng thừa nhận không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về công nợ vợ chồng có vay vốn tại Ngân hàng CSXH huyện Tuyên Hóa số tiền gốc 50.000.000đ thời hạn trả nợ đến 12/01/2023 khoản tiền vay còn nợ đến ngày xét xử sơ thẩm (21/7/2021) là 50.113.000đ gồm tiền gốc: 50.000.000đ; tiền lãi 113.000đ đề nghị áp dụng các Điều 17, Điều 59 luật hôn nhân và gia đình, các Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự để chia đôi số tiền vay gốc và lãi mỗi người phải trả một nửa. Cụ thể chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S phải trả mổi người là 25.056.500đ trong đó tiền gốc 25.000.000đ; tiền lãi: 56.500đ. Án phí dân sự sơ thẩm chị Đoàn Thị Thanh T đã nộp số tiền 300.000đ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ. Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Đinh Trường S phải chịu 300.000đ. Án phí phân chia tài sản chị T và anh S phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Chị Đoàn Thị Thanh T xin ly hôn anh Đinh Trường S có hộ khẩu thường trú tại tiểu khu TH, thị trấn Đ, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Quá trình giải quyết chị Đoàn Thị Thanh T có mặt còn anh Đinh Trường S vắng mặt vì hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Tòa án đã tiến hành ủy thác để lấy lời khai của anh Đinh Trường S theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa chị Đoàn Thị Thanh T có mặt còn anh Đinh Trường S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy đơn đề nghị xét xử vắng mặt của của anh Đinh Trường S đúng với quy định của pháp luật nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Đinh Trường S.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S tìm hiểu để đi đến kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc. Đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng do anh Đinh Trường S phạm tội phải đi chấp hành hình phạt tù nên chị T cảm thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn. Mặt khác từ khi anh Sơn đi chấp hành hình phạt tù chị Tâm đã đưa con về sống tại nhà ngoại ở tại thôn Đ, xã Đức H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình cho đến nay. Anh Đinh Trường S không đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng vẫn còn. Tại phiên tòa chị Tâm một mực xin được ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn nữa. Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù vợ chồng không có mâu thuẫn, nhưng do anh Sơn phải chấp hành hình phạt tù thời gian dài nên chị Tâm thấy sau khi chấp hành xong hình phạt tù anh S trở về địa phương thì tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng nếu kéo dài thì không có lợi cho cả hai phía. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy để bảo đảm quyền lợi cho người phụ nữ và con cái nên cần chấp nhận lời thịnh cầu của chị T là phù hợp do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xét xử chị Đoàn Thị Thanh T được ly hôn anh Đinh Trường S.
Về con chung của vợ chồng: Chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S đều thừa nhận vợ chồng có một đứa con chung tên là Đinh Linh Hiểu L, sinh ngày: 16/05/2019 hiện đang sống cùng chị T, nguyện vọng của chị T và anh S xin được nuôi con. Hôi đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của cả hai bên là hoàn toàn chính đáng nhưng hiện con đang còn nhỏ, mặt khác anh S đang chấp hành hình phạt tù nên không thể giao con cho anh S trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng được mà giao con cho chị Tâm trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là có căn cứ phù hợp vì vậy cần áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Đinh Linh Hiểu L, sinh ngày: 16/05/2019 cho chị Đoàn Thị Thanh T chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng mặc dù chị Đoàn Thị Thanh T không yêu cầu anh Đinh Trường S phải đóng góp tiền nuôi con hàng tháng nhưng để bảo đảm quyền lợi của con và nghĩa vụ trách nhiệm của cha mẹ sau khi ly hôn nên cần buộc anh Đinh Trường S phải đóng góp một khoản tiền để hỗ trợ cùng chị Tâm chăm sóc con cái là đúng với quy định của pháp luật vì vậy cần áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc anh Đinh Trường S phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Đinh Linh Hiểu L hàng tháng mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời gian tính từ tháng 8/2021.
Chị Đoàn Thị Thanh T không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Đinh Trường S, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh S có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .
Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về công nợ: Chị Đoàn Thị Thanh T và anh Đinh Trường S thừa nhận vợ chồng có vay vốn tại Ngân hàng CSXH huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) hạn trả cuối cùng vào ngày 12/01/2023. Hàng tháng tiền lãi đã trả đủ. Chị T thừa nhận tổng số tiền vay đến ngày xét xử sơ thẩm (21/7/2021) là: 50.113.000đ trong đó tiền gốc 50.000.000đ, tiền lãi trong hạn 113.000đ chị T và anh S nhất trí số tiền gốc và lãi chia đôi mỗi người chịu trách nhiệm trả một nửa. Hội đồng xét xử thấy mặc dù khoản tiền vay chưa đến thời hạn trả nợ cuối cùng, nhưng khi vợ chồng ly hôn thì phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trả đủ số tiền gốc và lãi mà hai bên đã ký theo hợp đồng như đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp. Vì cần áp dụng các Điều 17, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình và các Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc chị Đoàn Thị Thanh T phải trả tổng số tiền đến ngày xét xử sơ thẩm (21/7/2021) là 25.056.500đ (hai mươi lăm triệu không trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng) trong đó tiền gốc là: 25.000.000đ; tiền lãi là 56.500đ. Anh Đinh Trường S phải trả tổng số tiền đến ngày xét xử sơ thẩm (21/7/2021) là 25.056.500đ (hai mươi lăm triệu không trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng) trong đó tiền gốc là: 25.000.000đ; tiền lãi là 56.500đ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị Thanh T đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0000032 ngày 25/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ.
Án phí phân chia tài sản chị T và anh S phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Đinh Trường S phải chịu 300.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh chị Đoàn Thị Thanh T đối với anh Đinh Trường S.
Áp dụng khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Đinh Trường S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: chị Đoàn Thị Thanh T được ly hôn anh Đinh Trường S.
2. Về con chung của vợ chồng: Áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình: Giao con giao hai con Đinh Linh Hiểu L, sinh ngày: 16/05/2019 cho chị Đoàn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành
3. Áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình buộc anh Đinh Trường S phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Đinh Linh Hiểu L hàng tháng mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến lúc con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 8/2021.
Chị Đoàn Thị Thanh T không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Đinh Trường S, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con anh S có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về tài sản chung của vợ chồng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về công nợ chung của vợ chồng: Áp dụng các Điều 17, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc: Chị Đoàn Thị Thanh T phải tổng số tiền vay cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình cho đến ngày xét xử sơ thẩm (21/7/2021) là 25.056.500đ trong đó tiền gốc 25.000.000đ; tiền lãi trong hạn 56.500đ.
Anh Đinh Trường S phải trả tổng số tiền vay cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình cho đến ngày xét xử sơ thẩm (21/7/2021) là: 25.056.500đ trong đó tiền gốc 25.000.000đ; tiễn lãi trong hạn 56.500đ.
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (22/7/2021) Chị Đoàn Thị Thanh Tâm và anh Đinh Trường Sơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”.
6. Về án phí ly hôn: Chị Đoàn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền mà chị Đoàn Thị Thanh T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0000032 ngày 25/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Như vậy chị Đoàn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.
Án phí phân chia tài sản chị Đoàn Thanh T phải chịu 1.252.800đ. Anh Đinh Trường S phải chịu 1.252.800đ
Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Đinh Trường S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (21/7/2021), bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Tuyên Hóa; - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa; - UBND thị trấn Đồng Lê; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (đã ký) Trần Thanh Dần |