- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B về việc “Tranh chấp Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN R TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2021/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 8 - 2021 “V/v: Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN R
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Danh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Khải
2. Ông Tạ Văn Khách
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện R, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện R mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 367/2020/HNGĐ-ST ngày 21-10-2020 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-6-2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2021/QĐST-DS ngày 29-7-2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1977 (Có mặt).
Bị đơn: Bà Trịnh Thị H, sinh năm: 1981 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn 9, xã H, huyê ̣n R, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiê ̣n , trong quá trinh giải quyết vụ á n và tại phiên tòa
̀
nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
Ông B và bà H chung sống với nhau vào năm 2000. Ngày 14-6-2002, ông B và bà H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Tỉnh G, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 20 năm thì phát sinh nhưng mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà H có người đàn ông khác dẫn đến không có sự quan tâm, lo lắng cho nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hai bên đã tự hòa giải để cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng không có kết quả, bà H hiện không có mặ tại địa phương khoảng cuối năm 2020 cho đến nay. Nay, ông B yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bà Trịnh Thị H.
Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Giữa ông B và bà H có 03 người con chung là Nguyễn Thị Thiên D, sinh năm 2001, Nguyễn Duy K, sinh năm 2003 và Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 2007. Do cháu D và cháu K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu L hiện đang do ông B trực tiếp nuôi dưỡng và ông B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Loan cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên có xem xét nguyện vọng của cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng bị đơn bà Trịnh Thị H vắng mặt, nên không có bản lời khai.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện R tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn B được ly hôn với bị đơn bà Trịnh Thị H.
Về con chung: Giữa ông B và bà H có 03 người con chung là Nguyễn Thị Thiên D, sinh năm 2001, Nguyễn Duy K, sinh năm 2003 và Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 2007. Do cháu D và cháu K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu L hiện đang do ông B trực tiếp nuôi dưỡng và ông B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Loan cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên có xem xét nguyện vọng của cháu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Đây là vụ án dân sự về việc “ Tranh chấp Ly hôn”, các bên đương sự hiện cư trú tại thôn 9, xã H, huyện R, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện R.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Trịnh Thị H vắng mặt nhưng trước đó đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhiều lần, nhưng bà H vẫn vắng mặt không có lý do, nên được xem như bà từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa. Ngày 15-03-2021 Tòa án mở phiên tòa xét xử đối với vụ án và có niêm yết các văn bản cho bà Trịnh Thị H, tuy nhiên bà H vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung là đúng quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn B cho rằng, trong thờ i gian chung sống giữa nguyên đơn và bi ̣ đơn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung vợ chồng không được hạnh phúc, bà H có quan hệ bất chính với người đàn ông khác, không quan tâm, chăm sóc gia đình. Xét thấy, ông B và H sống chung với nhau từ năm 2000, việc sống chung hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương theo quy định, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án , Tòa
̀ án đã triệu tập bà H đến tòa để tham gia phiên hòa giải nhưng bà vẫn vắng mặt không có lý do, hơn nữa theo lời trình bày của nguyên đơn hiện ông bà đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Ngày 18-11-2020, Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương nơi ông bà sinh sống cũng thể hiện trong thời gian chung sống ông bà thường hay cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống và hiện nay đã sống ly thân. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy ti nh tra ̣ng vợ chồng giữa
̀ nguyên đơn và bi ̣ đơn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được . Căn cứ Điều 56 Luâ ̣t Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông B là phù hợp.
Về việc nuôi con: Giữa ông B và bà H có 03 người con chung là Nguyễn Thị Thiên D, sinh năm 2001, Nguyễn Duy K, sinh năm 2003 và Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 2007. Do cháu Duyên và cháu Khánh đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu L hiện đang do ông B trực tiếp nuôi dưỡng và ông B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các cháu L cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên có xem xét nguyện vọng của cháu.
Khi giải quyết vụ án về ly hôn, cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự, nhất là quyền lợi về mọi mặt của trẻ em và việc giải quyết về nuôi dưỡng con chung trong vụ án, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung ổn định, phát triển, đồng thời phải xem xét đến nguyện vọng của con chung từ đủ 07 tuổi trở lên theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nhận thấy, từ ngày ông B và bà H sống ly thân nhau đến nay, các cháu Nguyễn Thị Thiên D, Nguyễn Duy K và Nguyễn Thị Tuyết L, sống ổn định cùng với ông B. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 09-11-2020 thì các cháu Nguyễn Duy K và Nguyễn Thị Tuyết L có nguyện vọng được tiếp tục sống với ông B, hiện nay bà H không có mặt tại địa phương nên không có bản lời khai không thể hiện về con chung. Xét thấy, ông B có đủ điều kiện nuôi con chung và không thuộc trường hợp cấm nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào nguyện vọng của đương sự, cần chấp nhận tuyên giao con chung tên Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 2007 cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Đối với các cháu Nguyễn Thị Thiên D, Nguyễn Duy K đã trưởng thành và có khả năng nhận thức, tự lao động để nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông B không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B về việc “Tranh chấp Ly hôn”.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn B được ly hôn với bà Trịnh Thị H.
2/ Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung tên Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 2007 cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi;Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3/ Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đó theo biên lai thu tiền số 0011865 ngày 16-10-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện R, tỉnh Bình Phước. Ông B đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn bà Trịnh Thị H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện R; - CC THA DS huyện R; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. TAND HUYỆN R CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH PHƢỚC ----***---- BIÊN BẢN NGHỊ ÁN huyện R, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Dương Các Hội thẩm nhân dân: 10-2017 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, giữa: Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Thoại, sinh năm: 1973. năm: 1975. Cùng địa chỉ: Thôn 5, xã Long Tân, huyê ̣n R, tỉnh Bình Phước. tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. năm 2014; 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Thoại về việc tranh chấp ly hôn. Nguyễn Thị Thu (tên gọi khác: Nguyễn Thị Ngọc Thu). giải quyết. đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đó theo biên lai thu tiền số 026050 ngày 04-10-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện R, tỉnh Bình Phước. Ông Thoại đã nộp đủ án phí. cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 03/03 nhất trí. Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 00 phút cùng ngày. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Sỹ Luận Phạm Văn Khuyến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Danh Hòa Độc lập- Tự do-Hạnh phúc Vào hồi 09 giờ 30 ngày 18-4-2018, tại Phòng nghị án Tòa án nhân dân 1/ Ông Nguyễn Sỹ Luận 2/ Ông Phạm Văn Khuyến Đã tiến hành nghị án đối với vụ án thụ lý số 05/2017/HNGĐ-ST ngày 04- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu (tên gọi khác: Nguyễn Thị Ngọc Thu), sinh Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU Căn cứ khoản 1 Điều 51, các điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy 1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn Thoại được ly hôn với bà 2/ Về việc nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án 3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn Thoại phải nộp 300.000 Nguyên đơn ông Phạm Văn Thoại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Dƣơng |