vanban.org

Bản án 17/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Vũ Th.

Buộc Công ty TNHH Công nghiệp BVN bồi thường cho anh Nguyễn Vũ Th giá trị xe bị mất là 49.400.000đồng, tiền xe đi về trong 12 tuần là 1.800.000đồng, tiền thuê xe là 29.500.000đồng. Tổng cộng là 80.700.000đồng. Buộc Công ty TNHH Công nghiệp BVN thực hiện bồi thường một lần khi án có hiệu lực pháp luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản — án dân sự — "Nguyễn Vũ Th tranh chấp Hợp đồng gửi giữ với công ty BVN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Vũ Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số:17/2021/DS-ST
Ngày: 27-4-2021
V/v tranh chấp hợp đồng gửi
giữ tài sản.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƢỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Kim Nương.

2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu.

Từ ngày 22 đến ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2018/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/QĐST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Nguyễn Vũ Th, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số 154/3B, ấp M, xã MT, thành phố H, tỉnh BT.

Đại diện theo ủy quyền: Chị Lê Thị Hồng T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 244/2, Tổ 8, ấp 1, xã TH, huyện CT, tỉnh G (có mặt).

2.Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp BVN. Đại diện theo pháp luật: Ông XQ- Chức vụ: Tổng giám đốc. Địa chỉ: Lô 121A Khu công nghiệp LG, Ấp C, xã TL, huyện TP, tỉnh TG (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chi Nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn BTL. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh B –Chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Ấp D, xã TA, thành phố MT, tỉnh TG1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyễn Vũ Th là công nhân công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp BVN, anh Th vào làm việc từ tháng 3-2018 theo hợp đồng lao động ngày 07-4-2018. Vào lúc 06 giờ ngày 26-6-2018, anh Th đến công ty làm việc và gửi xe máy hiệu YAMAHA JUPITER MXKING 150 biển số 71B3-595.41 tại nơi giữ xe của công ty. Khi gửi xe, anh Th được nhân viên bảo vệ của Chi nhánh Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang ghi số thẻ lên xe và cấp thẻ xe cho anh Th, anh Th đem xe vào nhà xe đậu và vào công ty làm việc. Đến 15 giờ cùng ngày, anh Th tan ca làm về khi vào nhà xe lấy xe thì phát hiện mất xe. Anh Th có báo lãnh đạo Công ty TNHH Công nghiệp BVN và Công an xã TL1 để lập biên bản sự việc. Từ ngày mất xe đến nay anh Th có liên hệ Công ty TNHH Công nghiệp BVN để yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị xe nhưng chưa được bồi thường. Do bị mất xe nên anh Th đi về quê từ Tân Phước, Tiền Giang đến Thành phố H bằng xe khách, sau đó anh Th phải thuê xe cũ với giá 1.000.000đồng/tháng đi làm từ tháng 10-2018 cho đến nay.

Nay anh Nguyễn Vũ Th yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp BVN bồi thường giá trị xe bị mất theo giá trị là 49.400.000đồng (tại thời điểm mua xe là 52.000.000đồng, khi mất xe giá trị xe còn lại là 95%) và tiền xe lượt đi và về từ Tân Phước đến thành phố H trong 12 tuần là 1.800.000đồng; tiền thuê xe đi lại tạm tính từ ngày 01-10-2018 đến khi xét xử sơ thẩm với mức 1.000.000đồng/tháng tính từ 01-10-2018 đến khi xét xử sơ thẩm là 29,5 tháng với số tiền là 29.500.000đồng. Tổng cộng là 80.700.000đồng. Yêu cầu bồi thường một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

*Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp BVN

Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thụ lý bổ sung nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn. Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đại diện theo pháp luật của Công ty vắng mặt không có lý do.

Đến ngày 16-3-2021, Công ty TNHH Công nghiệp BVN có gửi đến Tòa án Công văn số 153/2021/BEL VN ngày 15-3-2021, theo ý kiến của Công ty thì giữa Công ty TNHH Công nghiệp BVN và Chi nhánh Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang có ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ bảo vệ. Anh Th đến công ty làm việc anh Th được bảo vệ của Chi nhánh Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang ghi số thẻ xe lên xe và cấp thẻ giữ xe cho anh Th. Khi tan ca ra về, anh Th đến nhà xe lấy xe thì phát hiện mất xe.

Căn cứ vào mục 2.2.1 khoản 2.2 Điều 2 của Hợp đồng cung ứng dịch vụ Bảo vệ số 066HĐ-CNBLT/2018 đã được ký kết thì trách nhiệm bồi thường cho anh Thương là trách nhiệm của Công ty BTL nên Công ty TNHH Công nghiệp BVN không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Nguyễn Vũ Th, theo Công ty TNHH Công nghiệp BVN thì trách nhiệm bồi thường cho anh Th là của Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang.

*Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chi nhánh Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang (gọi tắt là Công ty BTL).

Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thụ lý bổ sung nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn. Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đại diện theo pháp luật của Công ty BTL vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

*Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu Công ty TNHH Công nghiệp BVN bồi thường cho anh Nguyễn Vũ Th giá trị xe bị mất là 49.400.000đồng, tiền xe đi về từ Tân Phước về thành phố H trong 12 tuần (từ 27-6-2018 đến 30-9-2018) là 1.800.000đồng; tiền thuê xe đi lại tạm tính từ ngày 01-10-2018 đến khi xét xử sơ thẩm với mức 1.000.000đồng/tháng tính từ 01-10-2018 đến khi xét xử sơ thẩm là 29,5 tháng với số tiền là 29.500.000đồng. Tổng cộng là 80.700.000đồng. Yêu cầu bồi thường một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

*Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:

Về tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thẩm phán, thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòan bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Vũ Th. Buộc Công ty TNHH Công nghiệp BVN bồi thường cho anh Nguyễn Vũ Th số tiền 80.700.000đồng, thi hành một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án xác định vào ngày 26-6-2018 anh Nguyễn Vũ Thương đến Công ty TNHH Công nghiệp BVN làm việc và gửi xe máy biển số 71B3-595.41 tại nơi giữ xe của công ty như thường lệ. Khi vào Công ty anh Th được bảo vệ của Công ty BTL ghi số thẻ xe lên xe và cấp thẻ giữ xe cho anh Th làm phát sinh hợp đồng dân sự và trách nhiệm khi các bên khi thực hiện hợp đồng. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản theo quy định tại Điều 554 Bộ luật dân sự 2015. Hai bên xác lập giao dịch dân sự năm 2018 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Vũ Th tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản với bị đơn Công ty TNHH Công nghiệp BVN có địa chỉ: Lô 121A Khu công nghiệp Long Giang, Ấp C, xã TL, huyện TP, tỉnh Tiền Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là Công ty TNHH Công nghiệp BVN và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Về chứng cứ vụ án: Anh Nguyễn Vũ Th cung cấp bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 71B3-595.41, biên nhận giao xe của cửa hàng xe máy HM giao cho anh Th, thẻ xe máy do Công ty BTL cấp cho anh Th, hợp đồng thuê xe từ tháng 10-2018. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phước cung cấp như: Biên bản tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, biên bản lấy lời khai, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, quyết định khởi tố vụ án, biên bản họp hội đồng định giá tài sản trong các vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.

Về nội dung: Anh Nguyễn Vũ Th yêu cầu Công ty TNHH Công nghiệp BVN bồi thường giá trị xe bị mất là 49.400.000đồng, tiền xe đi về từ Tân Phước về thành phố H trong 12 tuần (từ 27-6-2018 đến 30-9-2018) là 1.800.000đồng; tiền thuê xe đi lại tạm tính từ ngày 01-10-2018 đến khi xét xử sơ thẩm với mức 1.000.000đồng/tháng tính từ 01-10-2018 đến khi xét xử sơ thẩm là 29,5 tháng với số tiền là 29.500.000đồng. Tổng cộng là 80.700.000đồng. Yêu cầu bồi thường một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 26-6-2018 anh Th đến Công ty TNHH Công nghiệp BVN làm việc và gửi xe máy biển số 71B3-595.41 tại nơi giữ xe của công ty như thường lệ. Khi vào Công ty anh Th được bảo vệ của Công ty BTL ghi số thẻ xe lên xe và cấp thẻ giữ xe cho anh Th làm phát sinh hợp đồng dân sự gửi giữ tài sản. Khi bảo vệ công ty BTL nhận giữ xe anh Th đến khi tan ca anh Th vào nơi để xe thì phát hiện mất xe, anh Th có báo Công ty TNHH Công nghiệp BVN và Công an xã TL1 lập biên bản sự việc thể hiện lời khai của nhân viên bảo vệ Công ty BTL xác nhận việc anh Th có gửi xe trong nhà xe của Công ty TNHH Công nghiệp BVN. Do đó việc anh Th gửi xe tại công ty và mất xe là có thật, Công ty TNHH Công nghiệp BVN có ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ bảo vệ với Công ty BTL có tổ chức giữ xe của anh Th và xảy ra việc mất xe trong công ty nên Công ty TNHH Công nghiệp BVN phải chịu trách nhiệm bồi thường tài sản cho anh Nguyễn Vũ Th là phù hợp với quy định tại Điều 554, 556, 557 Bộ luật dân sự. Sau khi mất xe, Công ty TNHH Công nghiệp BVN không bồi thường tài sản đã bị mất cho anh Th mà kéo dài cho đến nay. Anh Th yêu cầu Công ty TNHH Công nghiệp BVN bồi thường giá trị xe bị mất và tiền xe đi về trong 12 tuần là 1.800.000đồng, tiền thuê xe từ tháng 10-2018 đến khi xét xử sơ thẩm với mức 1.000.000đồng/tháng x 29,5 tháng là 29.500.000đồng. Xét thấy đây là thiệt hại thực tế của anh Nguyễn Vũ Th do Công ty TNHH Công nghiệp BVN chậm bồi thường tài sản bị mất nên buộc Công ty TNHH Công nghiệp BVN phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ cho anh Th là đúng quy định pháp luật.

Công ty TNHH Công nghiệp BVN cho rằng công ty có ký hợp đồng cung ứng dịch vụ bảo vệ với Công ty BTL nên việc mất xe của anh Th do Công ty BTL bồi thường, công ty không có trách nhiệm là không có cơ sở chấp nhận. Quá trình giải quyết vụ án Công ty TNHH Công nghiệp BVN và Công ty BTL không tham dự cũng không có yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Vũ Th, nếu công ty có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Công ty TNHH Công nghiệp BVN phải chịu án phí DSST theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Nguyễn Vũ Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 554, Điều 556, Điều 584, 585, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39. Khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Vũ Th.

Buộc Công ty TNHH Công nghiệp BVN bồi thường cho anh Nguyễn Vũ Th giá trị xe bị mất là 49.400.000đồng, tiền xe đi về trong 12 tuần là 1.800.000đồng, tiền thuê xe là 29.500.000đồng. Tổng cộng là 80.700.000đồng. Buộc Công ty TNHH Công nghiệp BVN thực hiện bồi thường một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh Thương có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty TNHH Công nghiệp BVN chậm thi hành thì còn phải chịu thêm lãi theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành.

2.Về án phí: Công ty TNHH Công nghiệp BVN phải chịu 4.035.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho anh Nguyễn Vũ Th số tiền 1.295.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 19488 ngày 12 tháng 10 năm 2018 và số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 19765 ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

3.Về quyền kháng cáo: Anh Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH Công nghiệp BVN và Chi nhánh Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Án tuyên lúc 08 giờ ngày 27-4-2021 có mặt đại diện ủy quyền của nguyên đơn, vắng mặt đại diện Công ty TNHH Công nghiệp BVN và Chi nhánh Công ty TNHH BTL tại Tiền Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ