- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:17/2020/HSST Ngày 29 - 6 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Thanh Bình
2. Bà Phạm Thị Thanh An
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thúy Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên toà: Ông Hà Lập Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2020/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 15/6/2020 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 17/11/1986 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản L, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Thái; trình độ học vấn 3/12; con ông Lò Văn C, sinh năm 1966; con bà Lò Thị L sinh năm 1966; có vợ là Hà Thị G, sinh năm 1991và có 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/02/2020, tạm giam từ ngày 26/02/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.
- Người làm chứng: Lường Văn T, sinh năm 1982; trú tại: Bản L xã H, thị xã N. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút, ngày 25/02/2020 tại nơi ở của Lò Văn T thuộc bản L, xã H, thị xã N. Công an thị xã Nghĩa Lộ bắt quả tang T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên đệm ghế dưới sàn cạnh nơi T đang ngồi 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; 07 gói giấy màu trắng có nhiều họa tiết, bên trong mỗi gói giấy đều có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 con dao lam; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel và số tiền 630.000 đồng.
Hồi 13 giờ 00 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Lò Văn T tại bản L, xã H, thị xã N. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa T khai nhận:Trước ngày 13/02/2020 (T không nhớ ngày cụ thể) T đi đến khu vực ngã ba thuộc thôn T, xã P, huyện T để tìm mua Heroine. T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ. T mua của người này 01 gói Heroine khoảng hai phân với giá 500.000 đồng, sau đó mang về nhà chia nhỏ, T đã sử dụng và bán cho một số đối tượng không biết tên, tuổi, địa chỉ hết khoảng một phân, số còn lại cất dấu trong kho ở dưới gậm sàn nhà mình, mục đích vừa sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Đến khoảng 08 giờ ngày 13/02/2020 T đã bán cho Lường Văn T là hàng xóm của T số ma túy còn lại khoảng một phân với giá 400.000 đồng.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 24/02/2020 T lại tiếp tục đi đến khu vực ngã ba thuộc thôn T, xã P, huyện T để tìm mua Heroine. Tại đây T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ, không giống với người đàn ông lần trước. T hỏi mua Heroine và mua được của người đàn ông này 01 gói Heroine với giá 700.000 đồng. Sau đó T mang số Heroine về nhà chia nhỏ mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 25/02/2020 khi T đang dùng dao lam chia số Heroine mua được từ ngày 24/02/2020 ra thành các gói nhỏ thì bị bắt quả tang, số gói ma túy T đã chia ra là 07 gói.
Quá trình điều tra, Lường Văn T khai nhận ngày 13/02/2020 có đến nhà Lò Văn T để mua ma túy, T đưa cho T 400.000 đồng và mua được 01 gói Heroine, phù hợp với lời khai của T như đã nêu trên.
Tại kết luận giám định số: 43/GĐMT ngày 03/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T có tổng khối lượng là 2,4 gam. Lấy 0,08 gam trích từ 2,4 gam chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Tại kết luận giám định số: 61/KLGĐ ngày 28/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Số tiền 630.000 đồng gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Hoàn lại toàn bộ đối tượng giám định cho cơ quan trưng cầu.
Cáo trạng số 20/CT-VKS-NL ngày 25/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ truy tố Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú; thành khẩn khai báo theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
* Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 2,32 gam Heroine; 02 chiếc vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 dao lam; các mảnh giấy gói và nilon.
- Trả lại cho bị cáo Lò Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel đã cũ và số tiền 630.000 đồng (sáu trăm ba mươi nghìn đồng);
- Truy thu của Lò Văn T số tiền 400.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, thành khẩn khai
báo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo Lò Văn T đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc truy tố bị cáo đều hợp pháp.
Tuy nhiên, Bản kết luận điều tra vụ án Hình sự của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ đề nghị truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cụ thể: Cơ quan điều tra đã bắt quả tang bị cáo Lò Văn T ngày 25/02/2020 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ được vật chứng là 2,4 gam ma túy, loại Heroine; quá trình điều tra bị cáo Toan tự thú khai nhận và cơ quan điều tra đã chứng minh được ngày 13/02/2020 bị cáo còn bán cho Lường Văn T01 gói Heroine được 400.000 đồng (BL số 84 -> 87), lời khai của Lường Văn T phù hợp với lời khai của bị cáo Lò Văn T. Như vậy T đã 02 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng Lường Văn T và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, Lò Văn T là người nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời, ngày 24/02/2020 Toan đi đến khu vực ngã ba thuộc thôn T, xã P, huyện T mua được của người đàn ông dân tộc Mông 01 gói Heroine với giá 700.000 đồng. Sau đó T mang số Heroine về nhà nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Ngày 25/02/2020 khi T đang dùng dao lam chia nhỏ số Heroine ra thành 07 gói thì bị bắt quả tang, tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 2,4 gam, là ma túy loại Heroine.
Trước đó vào ngày 13/02/2020 T đã 01 lần bán Heroine cho Lường Văn T thu được số tiền 400.000 đồng. Như vậy Lò Văn T đã 02 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời, hành vi đó của bị cáo T đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú; thành khẩn khai theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bởi Heroine là chất gây nghiện nguy hiểm, khiến người nghiện ngày càng lệ thuộc nặng nề vào chất ma túy. Đó còn là nguyên nhân gây suy thoái sức khỏe, làm mất nhân cách đạo đức và hao tổn về kinh tế. Chính vì vậy pháp luật của Nhà nước là trừng trị nghiêm khắc mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nhằm kiểm soát và từng bước bài trừ tệ nạn ma túy.
Bị cáo T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một cách nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại Trại giam để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
- Đối với số Heroine thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Toan có tổng khối lượng 2,4 gam. Đã lấy ra 0,08 gam làm mẫu vật gửi giám định, còn lại 2,32 gam cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với 02 vỏ phong bì sau khi mở niêm phong và các mảnh giấy gói và nilon. Xét không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel và số tiền 630.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn T. Xác định số tài sản này không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Ngày 13/02/2020 Toan đã bán Heroine cho T thu được số tiền 400.000 đồng, xét thấy đây là tiền thu lợi bất chính cần truy thu số tiền trên để nộp ngân sách nhà nước.
Trong vụ án này có T, ngày 13/02/2020 Tài đã mua Heroine của T nhằm mục đích để bán lại. Ngày 14/02/2020 T đã bị Công an thị xã Nghĩa Lộ khởi tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" ở một vụ án khác, nên trong vụ án này không đề cập xử lý đối với T.
Đối với 02 người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho T tại khu vực thôn T, xã P, huyện T, nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ của họ nên không đủ cơ sở để điều tra xử lý.
[7 ] Về án phí: Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 25/02/2020.
[3] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 2,32 gam Heroine; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 dao lam; các mảnh giấy gói và nilon.
- Trả lại cho bị cáo Lò Văn Toan 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel đã cũ và số tiền 630.000 đồng (sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, và biên bản giao nhận tài sản ngày 28/5/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ).
- Truy thu của Lò Văn T số tiền 400.000 đồng ( bốn trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Yên Bái;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND thị xã Nghĩa Lộ;
- VKSND tỉnh Yên Bái;
- THA hình sự;
- CCTHA dân sự thị xã Nghĩa Lộ;
- CA thị xã Nghĩa Lộ;
- Bị cáo; Trại tạm giam;
- Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
- UBND xã H (thông báo);
Hoàng Thị Phú
- Chi cục Hải quan;
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND thị xã Nghĩa Lộ; - VKSND tỉnh Yên Bái; - THA hình sự; - CCTHA dân sự thị xã Nghĩa Lộ; - CA thị xã Nghĩa Lộ; - Bị cáo; Trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - UBND xã Hạnh Sơn (thông báo); - Chi cục Hải quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Phú |