vanban.org

Bản án 17/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Lường Văn T, Đồng Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt: Lường Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 16/6/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn T và Đồng Văn h tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN ĐỒN
TỈNH QUẢNG NINH
-:-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HSST
Ngày 26/8/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Ninh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Đình Cầu

2. Bà Nguyễn Thị Hòa

Thư ký phiên toà: Bà Tăng Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bắc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2020/HSST ngày 05 tháng 8 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST - HS ngày 11/8/2020, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Văn T - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 19/7/1997, tại Nghĩa Lộ, Yên Bái;

Nơi ĐKHKTT: Thôn N T, xã T L, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở: Khu 1, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12.

Họ tên cha: Lường Văn P - Đã chết;

Họ tên mẹ: Lò Thị T - Sinh năm 1964;

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 16/6/2020, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vân Đồn – Có mặt

2. Họ và tên: Đồng Văn H - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 04/01/1995, tại Nghĩa Lộ, Yên Bái;

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T L, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở: Khu 1, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12;

Họ tên cha: Đồng Văn M - Đã chết;

Họ tên mẹ: Lường Thị T - Sinh năm 1969;

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 16/6/2020, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vân Đồn – Có mặt

* Người chứng kiến:

Anh Phạm Văn Tuấn, anh Vũ Huy Chương – Vắng mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 40 phút ngày 16/6/2020, tại Khu 1, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, tổ công tác Công an thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn phát hiện, bắt quả tang Lường Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank mang tên DONG VAN H; 01 biên lai rút tiền; 01 xi lanh còn mới.

Tại Bản kết luận giám định số 756/KLGĐ ngày 19/6/2020, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, xác định: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý; loại Heroine; Khối lượng 0,188 gam. Hoàn lại mẫu vật 0,14gam.

Quá trình điều tra, và tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn T khai nhận:

Bị cáo và bị cáo Đồng Văn H là người cùng quê, cùng làm công nhân xây dựng ở Khu 1, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, bản thân bị cáo nghiện ma túy loại Heroine từ đầu năm 2020, mỗi tuần bị cáo sử dụng ma túy khoảng hai lần, mỗi lần 100.000đ ma túy và sử dụng bằng hình thức tiêm chích T tiếp vào cơ thể. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý loại Heroine nên khoảng 11 giờ ngày 16/6/2020, H rủ bị cáo góp tiền mua ma túy về sử dụng, bị cáo đồng ý nhưng không có tiền, nên bị cáo bảo bị cáo H ứng tiền mua trước, bị cáo trả lại sau. H đưa cho bị cáo 01 thẻ ATM do ngân hàng Agribank phát hành và mật khẩu giao dịch là 041995. H nói cho bị cáo biết trong thẻ có 500.000 đồng, và bảo bị cáo rút 400.000 đồng để mua ma tuý và trả nợ tiền mua ma tuý của ngày 12/6/2020. Bị cáo đi đến cây ATM của ngân hàng Maritime Bank gần khu chợ Cái Rồng, huyện Vân Đồn rút được 400.000 đồng, sau đó bị cáo đi bộ đến Khu 1, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn gặp một người T niên, là người đã bán ma túy cho bị cáo và H ngày 10 và 12/6/2020, khi gặp, bị cáo hỏi “Anh có không để lại cho em một cái hai trăm” người T niên trả lời “Có” và lấy trong túi quần ra một gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất ma túy đưa cho bị cáo, bị cáo nhận ma túy và đưa cho người này 400.000đ vừa rút tại cây ATM và bảo “Em trả anh cả tiền lần trước”, người T niên cầm tiền đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo cầm ma túy trong lòng bàn tay trái đi về chỗ ở, đang trên đường về để cùng H sử dụng, thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ vật chứng.

Bị cáo thừa nhận số ma túy bị thu giữ đúng là của bị cáo, do bị cáo vừa mua của người T niên mà có, bị cáo không có quan hệ, không biết lai lịch, địa chỉ của người này, số tiền bị cáo dùng để mua ma túy là tiền của bị cáo H, bị cáo được chứng kiến việc cơ quan Công an niêm phong vật chứng và T tiếp ký vào biên bản niêm phong, bị cáo đi mua ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bị cáo H, không có mục đính gì khác. Khi bị bắt giữ, ngoài số ma túy Heroine bị thu giữ, bị cáo còn bị thu giữ 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank mang tên DONG VAN H là thẻ của bị cáo H đưa cho bị cáo đi rút tiền; 01 biên lai rút tiền là biên lai xác nhận số tiền bị cáo vừa rút tại cây ATM; 01 xi lanh còn mới bị cáo mua từ trước mục đích là để sử dụng ma túy. Thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố đối với bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã T hiện và đúng người, đúng tội, không oan.

Bị cáo Đồng Văn H tại cơ quan điều tra, và tại phiên tòa có lời khai thừa nhận lời khai của bị cáo Lường Văn T là đúng, thừa nhận bản thân bị cáo đã bàn bạc với bị cáo T và đưa thẻ ngân hàng, đọc cho bị cáo T biết mã Pin để T rút tiền, và đồng ý cho T rút số tiền 400.000đ, mục đích để mua 200.000đ ma túy về cùng sử dụng. Bị cáo còn khai, bị cáo có dặn T, số tiền 200.000đ còn lại, nếu người bán ma túy mà đòi số tiền mua nợ ma túy hôm trước, thì trả cho người đó, nếu không đòi thì T mang về đưa cho bị cáo để bị cáo trả nợ cho anh Phương là người làm cùng công trình với bị cáo. Thừa nhận 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank mang tên DONG VAN H thu giữ của bị cáo T là thẻ của bị cáo, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố đối với bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã T hiện và đúng người, đúng tội, không oan.

Người chứng kiến anh Phạm Văn Tuấn, anh Vũ Huy Chương là người chứng kiến việc kiểm tra, bắt giữ và thu giữ vật chứng đối với bị cáo T, có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc khoảng 11 giờ 40 phút ngày 16/6/2020, tại khu vực vỉa hè đường mới, thuộc khu 1 thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, được chứng kiến việc cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Lường Văn T, chứng kiến việc bị cáo khai nhận hành vi của mình, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 16/CT - VKSVĐ ngày 04/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố Lường Văn T, Đồng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn giữ nguyên quyết định truy tố Lường Văn T, Đồng Văn H theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lường Văn T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/6/2020.

Xử phạt Đồng Văn H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/6/2020.

Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,14 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong số 756/KLGĐ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 biên lai rút tiền; 01 xi lanh y tế.

Trả lại cho bị cáo Đồng Văn H 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank mang tên DONG VAN H

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được T hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã T hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo Lường Văn T, Đồng Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo T thừa nhận ngày 16/6/2020 đã mua 200.000đ tiền ma túy Heroine để sử dụng cùng bị cáo H. Bị cáo H thừa nhận đã đưa thẻ ngân hàng cho bị cáo T để bị cáo T rút tiền mua ma túy về cùng sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo bị bắt quả tang, cùng lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 40 phút ngày 16/6/2020, tại khu 1, thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, Lường Văn T, Đồng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,188 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị Công an huyện Vân Đồn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Bị cáo Lường Văn T, Đồng Văn H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý T tiếp; Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của nhà nước về chất gây nghiện, tiếp tay cho đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, làm trầm trọng thêm tình hình tội phạm ma tuý ở địa phương, bị cáo T, bị cáo H có hành vi tàng trữ trái phép 0,188 gam chất ma túy thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng bàn bạc mua ma túy để sử dụng, bị cáo H là người chi tiền để mua ma túy, bị cáo T là người đi mua ma túy, mục đích của các bị cáo là mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Vì vậy tính chất và vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau.

Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Lường Văn T, Đồng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật.

Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma tuý và tính trái pháp luật của việc tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng thiếu tu dưỡng bản thân, vì mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân đến nghiện chất ma túy và phạm tội, vì vậy cần xử phạt các bị cáo nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự;

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, xét thấy, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa cH.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

0,14 gam ma túy Heroine, hoàn lại sau giám định, trong niêm phong số 756/KLGĐ là vật cấm lưu hành; 01 hóa đơn rút tiền, 01 xi lanh không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank mang tên DONG VAN H là tài sản cá nhân của bị cáo Đồng Văn H, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối tượng bán ma túy cho Lường Văn T, Đồng Văn H, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Lường Văn T, Đồng Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

+ Xử phạt: Lường Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 16/6/2020.

+ Xử phạt: Đồng Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 16/6/2020.

Căn cứ: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,14 gam ma túy Heroine, hoàn lại sau giám định, trong niêm phong số 756/KLGĐ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 hóa đơn rút tiền, 01 xi lanh.

Trả lại cho bị cáo Đồng Văn H 01 thẻ ATM của ngân hàng Agribank mang tên DONG VAN H

(Tình trạng vật chứng, tài sản thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 26 ngày 12 /8 /2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

- Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Bị cáo Lường Văn T, Đồng Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lường Văn T, Đồng Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn

- CA, CQCSĐT, THAHS Công an huyện Vân Đồn

\

- Chi cục thi hành án dân sự huyện Vân Đồn

- Bị cáo, THA

Lê Hồng Ninh

- Lưu hồ sơ, lưu văn phòng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hòa – Hoàng Đình Cầu

Lê Hồng Ninh

Cỡ chữ