vanban.org

Bản án 17/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 11/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 18 ( mười tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 20/12/2019 ( là ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HSST.
Ngày: 11/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân nhân:

1. Ông Lường Văn Duôi

2. Ông Hà Ngọc Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 11/3/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2020/HSST ngày 18/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HS ngày 18/02/2020 đối với bị cáo:

Hoàng Văn S; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1989 tại xã Q, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tiểu khu 4, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch : Việt Nam;; Con ông : Hoàng Văn H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự : Không; Tiền án : Không; Nhân thân : Ngày 24/9/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 21/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu xử phạt 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản ( đã được xóa án tích ); Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 19/12/2019 tổ công tác Ban công an xã T, huyện Thuận Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản T, xã T, huyện Thuận Châu phát hiện và bắt quả tang Hoàng Văn S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa một ít chất cục bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Hoàng Văn S khai là Heroin) và 01 gói giấy nhỏ một mặt màu trắng, một mặt màu hồng bên trong có chứa một ít mảnh vụn màu hồng, nghi là ma túy tổng hợp(theo Hoàng Văn S khai là ma túy tổng hợp ); Một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã bóc dở, bên trong có 02 điếu thuốc lá.

Hồi 8 giờ ngày 20/12/2019 tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số bột màu trắng và mảnh vụn màu hồng thu giữ của Hoàng Văn S. Cân số bột màu trắng có khối lượng 0,13 gam, trích rút 0,03 gam ký hiệu S1 gửi giám định chất và loại ma túy, còn lại 0,10 gam ký hiệu S2 niêm phong nhập kho vật chứng. Cân tịnh mảnh vụn màu hồng được khối lượng 0,07 gam trích rút toàn bộ 0,07 gam ký hiệu S3 gửi giám định chất và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 66/KL ngày 23/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu S1 là chất ma túy, loại chất Heroin, khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,03 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu S3 là chất ma túy, loại chất Methamphetamine khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,07 gam; Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,13 gam loại Heroine và 0,07 loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, Hoàng Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 19/11/2019, Hoàng Văn S một mình đón xe buýt đi từ nhà ở tiểu khu 4, xã T, huyện Thuận Châu đến xã T, huyện Thuận Châu để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến ngã ba rẽ vào bản T, xã T thì S gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Thái (S không biết tên và địa chỉ cư trú) đang đứng ở bên đường 01 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng và 01 gói chứa mảnh hồng phiến gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với giá 150.000đ. Sau khi mua được ma túy, S cất gói ma túy vào trong bao thuốc lá Thăng Long để vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc rồi đi ra quốc lộ 6A đón xe buýt đi về nhà. Khi S đang đi bộ khu vực bản T, xã T thì bị Tổ công tác Công an huyện Thuận Châu yêu cầu dừng xe kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra Tổ công tác đã phát hiện 02 gói ma túy S đang cất giấu và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Sau đó Tổ công tác đã đưa S về trụ sở UBND xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu để lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và đã được dẫn giải về Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 19/CT-VKSTC ngày 18/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị can Hoàng Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hoàng Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự . Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn S mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 20/12/2019 ( là ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên:

Tịch thu tiêu hủy chất ma túy, loại chất Heroine có khối lượng 0,10 gam, ký hiệu S2 được niêm phong trong phong bì thư và một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã bóc dở, bên trong có 02 điếu thuốc lá.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Lời nói sau cùng của bị cáo Hoàng Văn S: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại chất Heroine có khối lượng 0,13 gam và chất ma túy, loại chất Methamphetamine có khối lượng 0,07 gam của bị cáo Hoàng Văn S nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng chất ma túy của Hoàng Văn S là 0,20 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Tại điểm i, khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)………………………….

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm đối với bị cáo Hoàng Văn S.

Xét nhân thân bị cáo là người đã có 02 tiền án đã được xóa án tích là nhân thân xấu. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với các tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy không lớn, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, sống chủ yếu phụ thuộc gia đình không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng vụ án:

Đối với Heroine có khối lượng 0,10 gam và một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 02 điếu thuốc lá cần vận dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người phụ nữ tại bản L, xã T, huyện Thuận Châu theo Hoàng Văn S khai là người đã đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 19/12/2019 nhưng do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra xử lý.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 18 ( mười tám ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 20/12/2019 ( là ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo ).

Tiếp tục giam giữ bị cáo Hoàng Văn S trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy :

+ Một phong bì có viền màu xanh đỏ ngoài ghi : Vật chứng nhập kho vụ Hoàng Văn S- Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/12/2019 được dán giấy niêm phong Công an tỉnh Sơn La có số 024103 đè lên các mép dán niêm phong trên giấy niêm phong có đầy đủ các chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hai dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu : Một mảnh nilon màu trắng + Một mảnh giấy một mặt màu trắng một mặt màu vàng + 0,10 gam chất ma túy loại Heroine ký hiệu S2 + 01 vỏ phong bì đã bóc mở niêm phong vật chứng ban đầu.

+ Một vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng đã bóc dở, bên trong có 2 điếu thuốc lá.

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án : Bị cáo Hoàng Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 BLTTHS : Bị cáo Hoàng Văn S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ