vanban.org

Bản án 17/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Kh và Hà Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Kh và Hà Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 17/2020/HS-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 06-5-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bá Khiên

Bà Phạm Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/TLST - HS ngày 19 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 17/2020/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo:

1/ Bùi Văn Kh, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1998 tại huyện T, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm Tr, xã Ph, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L, sinh năm 1978 và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không có án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa, có sử dụng chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 16/12/2019 chuyển tạm giam ngày 25/12/2019. Có mặt.

2/ Hà Văn C, sinh ngày 15 tháng 6 năm 2000 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm Ch, xã Th (xã N cũ), huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Ô, sinh năm 1978 và bà Đinh Thị Kh, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không có án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa, có sử dụng chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 16/12/2019 chuyển tạm giam ngày 25/12/2019. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Văn Th, sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm N, xã Th, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 ngày 16/12/2019 Công an huyện Mai Châu phối hợp với Công an xã Pà Cò và Tổ công tác của Công an tỉnh Hòa Bình làm nhiệm vụ tại xóm P1, xã P, thì phát hiện Hà Văn C đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28E1- 108.80, chở phía sau Bùi Văn Kh đang đi theo hướng từ xã Ph ra đường Quốc lộ 6 có nghi vấn đang tàng trữ trái phép chất ma túy, nên yêu cầu dừng xe kiểm tra và tự giác giao nộp ma túy nếu có. Ngay lúc đó Bùi Văn Kh đã lấy trong túi áo khoác đang mặc ra 02 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói trong túi nilon màu xanh và khai nhận là ma túy cùng với Hà Văn C vừa đi mua được đem về sử dụng. Cơ quan Công an đã đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an xã Pà Cò tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang để tiếp tục điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra Bùi Văn Kh và Hà Văn C khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2019, C đi nhờ xe mô tô với một người không quen biết từ nhà ở xóm C, xã Th đến đèo Đ thuộc xã Ph, huyện T chơi và gọi điện cho Kh rủ Kh lên chơi, uống rượu cùng. Khoảng 12 giờ Kh lấy xe mô tô của gia đình Kh lên gặp C. Sau khi cùng nhau uống rượu và nói chuyện, Kh hỏi C nếu có tiền thì cùng lên khu vực P, H tìm mua ma túy về sử dụng, C đồng ý và đưa cho Kh 400.000 đồng, C mượn xe mô tô biển kiểm soát 28E1- 108.80 của anh Hà Văn Th đang bán hàng ở khu vực đèo Đ rồi chở Kh lên H. Đến khu vực xã H, thì thấy một người phụ nữ Mông không quen biết đang đi bộ, C dừng xe, Kh xuống hỏi mua ma túy và đưa cho người đó 400.000 đồng, người đó đưa cho Kh 01 gói nilon màu xanh chứa Heroine và 01 viên ma túy tổng hợp. Kh cầm lấy và lên xe, đến đoạn đường vắng, C dừng xe, Kh lấy 01 viên ma túy tổng hợp ra cùng C sử dụng bằng hình thức hít, số Heroine còn lại Kh chia thành 02 gói nhỏ cất trong túi áo khoác đang mặc, sau đó C tiếp tục chở Kh về, trên đường về đến xã Pà Cò thì bị tổ công tác của Công an bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số: 392/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 23/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Chất bột màu trắng trong 02 gói nilon, trong phong bì niêm phong ghi tên Bùi Văn Kh và Hà Văn C gửi giám định có tổng khối lượng 1,65 gam, là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKS-HS ngày 19/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Bùi Văn Kh và Hà Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Bùi Văn Kh và Hà Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn Kh từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2019.

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hà Văn C từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2019.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 28E1 - 108.80 nhãn hiệu HONDA màu sơn xanh - đen kèm theo chìa khóa xe bị tạm giữ, qua điều tra xác minh chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của anh Hà Văn Th, việc C và Kh dùng xe của anh Thắng làm phương tiện đi lại rồi phạm tội, anh Th không biết, không có lỗi. Ngày 05/3/2020, anh Th đã có đơn xin lại tài sản. Do vậy đề nghị trả lại chiếc xe và chìa khóa xe cho anh Hà Văn Th.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 7 màu đen, có ốp nhựa, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Bùi Văn Kh, qua điều tra xác định không sử dụng vào mục đích phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo Bùi Văn Kh.

Về các vấn đề khác:

- Đối với người phụ nữ dân tộc Mông các bị cáo khai đã bán ma túy cho các bị cáo, kết quả điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của các bị cáo: Đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, không bị ép cung, mớm cung, đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm không có thắc mắc gì. Các bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Nguyên nhân vi phạm pháp luật là không làm chủ được bản thân, tàng trữ để sử dụng không có mục đích gì khác. Sau sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo mong được sự khoan hồng của Nhà nước.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hà Văn Th: Khi anh Th đang bán hàng tại đèo Đ thì C đến hỏi mượn xe mô tô nói là xuống Phú C xem đồ đạc để sửa xe, do quen biết nhau nên anh Thắng cho C mượn xe. Việc C và Kh lấy xe đi mua ma túy anh hoàn toàn không biết, không có lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28E1 - 108.80 cùng chìa khóa xe cho anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ xác định có tội:

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 16/12/2019 tại xóm P1, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Bùi Văn Kh và Hà Văn C bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép trong túi áo khoác bên trái đang mặc của Bùi Văn Kh 1,65 gam Heroine. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội:

Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Song vì cần có chất ma tuý để sử dụng cho bản thân nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.

Đối với Bùi Văn Kh là người khởi xướng, rủ C đi mua ma túy. Kh là người trực tiếp hỏi mua và nhận ma túy từ người phụ nữ không quen biết, tàng trữ trong người và chia ra thành 02 gói nhỏ để cùng C sử dụng.

Đối với Hà Văn C khi thấy Kh khởi xướng việc đi mua ma túy thì không can ngăn mà ngược lại đồng ý luôn, còn đưa cho Kh 400.000 đồng để mua ma túy và là người trực tiếp mượn xe anh Thắng và điều khiển xe chở Kh lên H mua ma túy. Do vậy bị cáo C xếp vai trò thứ yếu đồng phạm với bị cáo Kh.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với các bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Kh và Hà Văn C phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Kh và Hà Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn Kh 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 16/12/2019;

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn C 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 16/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroin còn lại sau khi giám định, được niêm phong trong 01 phong bì.

- Trả lại ngay cho anh Hà Văn Th chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 28E1 - 108.80 nhãn hiệu HONDA màu sơn xanh - đen kèm theo chìa khóa xe.

- Trả lại ngay cho bị cáo Bùi Văn Kh chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 7 màu đen, có ốp nhựa, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 27/THA ngày 25/3/2020 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Bùi Văn Kh và Hà Văn C mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh HB;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND, STP tỉnh HB;

(đã ký)

- Trại tạm giam;

- VKSND huyện MC;

- Cơ quan ĐT; Cơ quan THAHS;

- Nhà tạm giữ CA huyện MC;

- Chi cục THA dân sự;

- UBND xã Phú C;

- UBND xã Th ;

Phạm Thanh Tùng

- Người TGTT; Lưu hồ sơ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thanh Tùng

Cỡ chữ