vanban.org

Bản án 17/2020/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 01/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo K và sửa bản án s thẩm.

Xử phạt: K 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về án phí: K không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo K và sửa bản án s thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HSPT
Ngày: 01 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Trường

Ông Nguyễn Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 252/2020/TLPT-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với b cáo K về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 25/2020/HS-ST ngày 07-5-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

K, sinh năm 1995 tại Hàn Quốc; đ a chỉ: Busan; n i cư trú: thành phố Hồ Chí Minh; quốc t ch: Hàn Quốc; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng G; con ông: K (sinh năm 1969) và bà I (sinh năm 1969); tiền án, tiền sự: Không. B cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Hùng V – Luật sư, Công ty luật hợp danh N, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

Đ a chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Người phiên dịch: Bà Trần Th Phư ng T và bà Bùi Th L; đ a chỉ: thành phố Hồ Chí Minh.

Trong vụ án còn có những người đại diện hợp pháp của người b hại không có kháng cáo; không b kháng cáo, kháng ngh nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 22/8/2018, sau khi đã ăn và uống bia với bạn, K (quốc t ch Hàn Quốc) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 50LD - 111.34 lưu thông trên đường T, hướng từ Quảng trường X, N đi C. Khi đi đến trước khu vực số 86 đường T, thành phố N, do không làm chủ được tốc độ nên K đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 79K7 - 6906 do bà Lê Th L điều khiển đi cùng chiều phía trước gây tai nạn. Sau đó, xe ô tô 50LD 111.34 do K điều khiển tiếp tục lao qua dải phân cách cứng giữa hai làn đường và dừng lại tại làn đường ngược chiều (bên kia giải phân cách). Hậu quả của tai nạn làm bà L chết tại chỗ. Sau tai nạn, K xuống xe, nói chuyện với anh Vũ Hoàng G là người dân đi đường, mặc dù biết có người b tai nạn do mình gây ra nhưng K không cứu giúp mà lên điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 50LD - 111.34 rời khỏi hiện trường, người dân đi đường thấy vậy đã truy đuổi, giữ lại và trình báo C quan Công an. Làm việc tại C quan Cảnh sát điều tra Công an tinh Khánh Hòa, K khai nhận đúng nội dung nêu trên.

Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong h i thở của K lúc 06 giờ 10 phút ngày 22/8/2018 tại Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố N, kết quả nồng độ cồn hiển th 0,580mg/L khí thở.

Tại Kết luận giám đ nh pháp y về tử thi số 383/TT-TTPY ngày 29/8/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Khánh Hòa kết luận: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Lê Th L là Chấn thư ng sọ não.

Tại B n án h nh sự sơ thẩm s 25/2020/HS-ST ngày 07/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa ã quy t ịnh:

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 11 Thông tư 29/2015/TT-BGTVT ngày 06/7/2015 của Bộ Giao thông vận tải; các khoản 8, 9, 11, 17 Điều 8; khoản 4 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: b cáo K 04 (bốn) năm tù về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 16 tháng 5 năm 2020, b cáo K có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo K và giữ nguyên bản án s thẩm.

Lời bào chữa của luật sư cho b cáo K nhất trí về phần tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng để xét xử đối với b cáo K. Luật sư cho rằng, b cáo K có giấy phép lái xe Hàn Quốc nhưng do các c quan Nhà nước ta không tuyên truyền cho b cáo biết để b cáo đổi giấy phép lái xe, b cáo có uống rượu, bia nhưng nồng độ cồn trong khí thở là 0.580 mg/ lít khí thở là vượt mức cho phép (0,250mg/ lít khí thở) nhưng không đến mức trầm trọng. Khi gây tai nạn b cáo xuống xe xem xét, nhưng do hoảng loạn về tinh thần, quá sợ hãi và không nói được tiếng Việt nên b cáo mới bỏ chạy để tìm người cứu giúp. B cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, b cáo là người nước ngoài đang làm Doanh nghiệp tại Việt Nam. Sau khi xét xử s thẩm, Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh cũng có văn bản xin giảm nhẹ và xin cho b cáo được hưởng án treo, gia đình người b hại tiếp tục có đ n xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo nên đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của b cáo K giảm cho b cáo một phần hình phạt và cho b cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

B cáo K khai nhận tội, đối chiếu thấy phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phư ng tiện liên quan đến tai nạn giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ s vụ án, Hội đồng xét xử có đủ c sở kết luận: Sau khi uống rượu, bia, khoảng 03 giờ 30 phút ngày 22-8-2018, K mặc dù chưa được cấp giấy phép lái xe quốc tế nhưng vẫn điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 50LD-111.34 lưu thông trên đường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, theo hướng từ Quảng trường X đi C. Khi đi đến số nhà 86 đường T do không làm chủ được tốc độ nên đã gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 79K7-6906 do bà Lê Th L điều khiển đi cùng chiều phía trước. Hậu quả bà L chết tại chỗ. Sau khi gây tai nạn, K xuống xe nhưng không cứu giúp người b nạn mà tiếp tục lên xe bỏ chạy khỏi hiện trường, nhưng b người dân truy đuổi bắt lại và giao cho c quan chức năng. Công an thành phố N tiến hành kiểm tra nồng độ cồn của K vào lúc 06 giờ 10 phút ngày 22-8-2018 là 0,580mg/ Lít khí thở.

Hành vi nêu trên của b cáo K đã b Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bản án s thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ phạm tội, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho b cáo K như: B cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho gia đình người b hại và được gia đình người b hại có đ n bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho b cáo và xử phạt K với mức án 04 năm tù. Sau khi xét xử s thẩm, ngày 07-8-2020 Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh có công văn đề ngh Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét cho b cáo K được nhận mức án thấp nhất và xin cho b cáo được hưởng án treo. Gia đình b hại cũng có đ n đề ngh ngày 26-11-2020 xin giảm án cho b cáo K, có xác nhận của chính quyền đ a phư ng. B cáo là giám đốc Doanh nghiệp tại Việt Nam nên có c sở chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo K cũng như một phần lời bào chữa của luật sư cho b cáo và sửa bản án s thẩm, giảm hình phạt cho b cáo K thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước Việt Nam. Do b cáo K phạm nhiều tình tiết tăng nặng nên không thể cho b cáo được hưởng án treo.

Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên b cáo K không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

Những phần quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo K và sửa bản án s thẩm.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 11 Thông tư số 29/2015/TT-BGTVT ngày 06-7-2015 của Bộ Giao thông Vận tại; Các khoản 8, 9, 11, 17 Điều 8, khoản 4 ĐIều 14 Luật giao thông đường bộ; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: K 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: K không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ