- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùi Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùi Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày 18/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Tiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Định – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Mùi Văn D, sinh năm 1983, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Sao T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùi Văn L và bà Đinh Thị P; bị cáo có vợ là Lò Thị H (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Ngày 30/9/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 08 năm 06 tháng tù giam về tội Cướp tài sản, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2017; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 15/12/2019, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Mùi Văn D (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Mùi Văn D đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu xanh, bên trong đựng chất bột màu trắng. Mùi Văn D khai là Heroine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng dẫn giải Mùi Văn D về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.
Ngày 15/12/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phối hợp với VKSND huyện Mộc Châu và Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Mùi Văn D, kết quả: Cục chất bột màu trắng thu giữ của Mùi Văn D có khối lượng 0,24 gam, lấy 0,08 gam làm mẫu giám định ký hiệu “D”. Cơ quan Công an huyện Mộc Châu ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 17 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,24 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra Mùi Văn D khai nhận: khoảng 07 giờ ngày 14/12/2019, Mùi Văn D đi bộ một mình từ nhà ở bản S, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La đến bản C5, xã T, huyện M, để thăm người nhà. Khi D đi đến khu vực bản D, xã T, huyện M thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái, không quen biết, khoảng 50 tuổi, D dừng lại hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng chất bột màu trắng là Heroine với giá 100.000đ, sau đó D cất giấu gói Heroine vào trong cạp quần trước bụng đang mặc rồi tiếp tục đi bộ đến bản C5, xã T, huyện M. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2019 khi D đang đi bộ trên đường dân sinh bản N, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cáo Mùi Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố Mùi Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố Mùi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Mùi Văn D từ 21 tháng đến 24 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,16 gam Heroine cùng mảnh nilon màu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Mùi Văn D thừa nhận: Hồi 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2019, Mùi Văn D đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,24 gam, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Ngày 30/9/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phat 08 năm 06 tháng tù giam về tội Cướp tài sản, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2017. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,16 gam Heroine cùng mảnh nilon màu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Thái đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Mùi Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Mùi Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 15/12/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Mùi Văn D, bắt ngày 15/12/2019: Bên trong đựng 0,16 gam Heroine cùng mảnh nilon màu xanh và vỏ gói niêm phong ban đầu.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Mùi Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/02/2020.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - THAHS; - Trại giam; - Chi cục THA dân sự huyện Mộc Châu; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trung Kiên |