- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Minh H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày 28/02/2020 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lƣơng Thanh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Xuyến
Bà Phạm Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Hƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2020/TLST- HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trƣơng Minh H, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1998 tại Uông Bí, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 9A, khu 3, phường Q, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Trương Hải N và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/11/2019 và tạm giam ngày 09/11/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N; Nơi cư trú: tổ 9A, khu 3, phường Q, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nông Văn B và anh Vũ Đức Đ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/11/2019, trong khi Trương Minh H đang ở nhà tại tổ 9A, khu 3, phường Q, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thì nảy sinh ý định muốn mua ma túy loại “đá” về sử dụng nên H đã dùng điện thoại di động của mình bên trong gắn sim số 0345.154.988 gọi cho một người tên H (không rõ lai lịch, địa chỉ) để mua ma túy loại “đá” với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Khi H gọi điện thoại thì H đồng ý và hẹn gặp H ở ngõ cây si gần Xí nghiệp nước Uông Bí thuộc phường Q, thành phố Uông Bí. Sau đó, H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Smash biển kiểm soát 14K1 - 7530 từ nhà đến chỗ hẹn gặp và đưa cho H 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), H nhận tiền đồng thời đưa cho H 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x3)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. H cầm túi nilon trên ở lòng bàn tay trái, rồi điều khiển xe môtô tìm chỗ để sử dụng ma túy. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe mô tô đến khu vực đường đê thuộc tổ 15A, khu L, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Uông Bí phối hợp với Công an phường Yên Thanh, trong khi làm nhiệm vụ tại tổ 15A, khu L, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, bắt quả tang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Khi lực lượng Công an kiểm tra, H đã thả từ tay trái xuống nền đường cách vị trí H đang đứng khoảng 20 cm 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2x3)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nhằm trốn tránh nhưng đã bị Cơ quan Công an phát hiện và thu giữ túi ma túy trên. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Smash màu xanh biển kiểm soát 14K1 - 7530; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng xám cùng sim số 0345.154.988.
Trong cùng ngày, Cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại tổ 9A, khu 3, phường Q, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện và thu tại mặt bàn kê trong phòng ngủ của H 01 cân tiểu ly màu nâu đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 831/GĐMT ngày 06/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ được của H là ma túy Methamphetamine, khối lượng là 0,339 gam.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT – VKSUB ngày 07/02/2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố bị cáo Trương Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với nam thanh niên có tên H mà H đã khai bán ma túy cho H, hiện chưa làm rõ được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung vụ án đã nêu và thừa nhận bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N, tại phiên tòa có lời khai bà không biết H mượn xe của bà để đi mua ma túy, tại cơ quan điều tra bà đã được nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.
Người chứng kiến ông Nông Văn B và anh Vũ Đức Đ vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai thể hiện trong hồ sơ tại các bút lục 51 – 57.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Minh H với mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/11/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì số 831/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng ma túy thu giữ của bị cáo, được hoàn lại sau giám định.
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và tịch thu, tiêu hủy 01 sim điện thoại 0345.154.988 không còn giá trị sử dụng.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Smash màu xanh BKS 14K1 – 7530 và 01 cân tiểu ly, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt:
2.1 Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến và phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 03/11/2019, tại khu vực tổ 15A, khu L, phường Y, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Trương Minh H bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,339 gam chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố Uông Bí bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố về tội danh và hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
2.2 Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng mức hình phạt cao nhất được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 05 năm tù, đối chiếu với điểm b khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và có mức nguy hiểm cho xã hội lớn. Do đó, cần phải có hình phạt phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như để tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong số 831/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng ma túy thu giữ được của bị cáo, được hoàn lại sau giám định thuộc loại vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, bị cáo sử dụng trong việc liên lạc mua ma túy, tàng trữ để sử dụng, xác định là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước và sim số 0345.154.988, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Smash màu xanh BKS 14K1 - 7530 và 01 cân tiểu ly, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyển lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trƣơng Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Trƣơng Minh H 12 (mƣời hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ 03/11/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 831/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng xám đã qua sử dụng.
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) sim điện thoại số 0345.154.988.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 02 năm 2020 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, danh mục án phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trương Minh H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; người có QLNVLQ; - VKSND TPUông Bí; - Công an TP Uông Bí; - Chi cục THADS TP. Uông Bí; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP./. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thanh Thúy |