- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 01 năm 01 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16 tháng 12 năm 2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày 19 -02 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thu
Bà Lê Thị Sinh Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Văn Th; sinh ngày: 19/5/1991. Tại Thái Bình; nơi cư trú: thôn Đắc Chúng Trung, xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Bố Phạm Văn T, sinh năm 1956; mẹ đẻ Phạm Thị H (chết). Gia đình có 3 anh em; bị cáo là con thứ ba. Vợ Lai Thị M, sinh năm 1996; có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2019 đến ngày 19/12/2019 chuyển tạm giam. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình. Có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1954, trú tại số nhà 03/39, ngõ 451, tổ 13, phường Đ, thành phố B. Vắng mặt
+ Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1960, trú tại số nhà 18, tổ 9, phường Đ, thành phố B. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 16/12/2019, Phạm Văn Th đi bộ đến khu vực cầu Đ, tổ 9, phường Đ, thành phố B với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây Th gặp và hỏi mua của một người nam giới khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ 500.000 đồng được 01 gói ma túy, Th nhận gói ma túy và cất vào trong túi quần bên trái phía trước sau đó đi tìm chỗ để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường Tr, tổ 9, phường Đ, thành phố B thì tổ công tác Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình yêu cầu dừng lại để kiểm tra vì nghi có liên quan đến ma túy. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Ngọc Th và ông Nguyễn Đức H, Th tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, tổ công tác mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, Th khai nhận đó là hêrôin mua về để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã niêm phong gói ma túy đó trong một phong bì thư dán kín, có chữ ký của Th và người chứng kiến. Sau đó tổ công tác yêu cầu Th về trụ sở Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình để làm việc. Kiểm tra người Th, tổ công tác thu tại túi quần bên trái của Th 01 điện thoại di động Samsung màu đen, thu tại túi quần hậu bên phải số tiền 140.000đ, ngoài ra không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 473/KLGĐ-PC09 ngày 17/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật chứng thu giữ của Phạm Văn Th gửi giám định là ma túy, loại hêrôin, có khối lượng 0,2733 gam (Không phẩy hai nghìn bảy trăm ba mươi ba gam)”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Th không có ý kiến, khiếu nại gì về kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình nêu trên.
Bản cáo trạng số: 16/CT-VKSTPTB ngày 14 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình thực hiện quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Văn Th. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Th từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 16 tháng 12 năm 2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu của bị cáo Phạm Văn Th 0,2733 gam (Không phẩy hai nghìn bảy trăm ba mươi ba gam)”
- Trả lại bị cáo Phạm Văn Th 01 điện thoại di động Samsung màu đen và số tiền số tiền 140.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến và tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ kết tội bị cáo Phạm Văn Th Hồi 19 giờ 15 phút ngày 16/12/2019, tại khu vực đường Tr, tổ 9, phường Đ, thành phố B, Phạm Văn Th có hành vi tàng trữ trái trái phép trong người 01 gói ma túy, loại hêrôin, có khối lượng 0,2733 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân bị tổ công tác Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của bị cáo Phạm Văn Th phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Nguyễn Ngọc Th và ông Nguyễn Đức H. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình lập hồi 19 giờ 25 phút ngày 16 tháng 12 năm 2019; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình lập hồi 20 giờ 15 phút ngày 16/12/2019; bản Kết luận giám định số: 473/KLGĐ-PC09 ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì:
“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:[...] c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]”.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưởng đến trật tự trị an. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do bị cáo không có thu nhập ổn định, bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy Phạm Văn Th khai mua của người nam giới khoảng 35 tuổi không biết tên địa chỉ tại khu vực cầu Đ, phường Đ, thành phố B nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Phạm Văn Th 0,2733 gam (Không phẩy hai nghìn bảy trăm ba mươi ba gam)” ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định là 0,2322 gam (không phẩy hai nghìn ba trăm hai mươi hai gam) trong phong bì niêm phong số 473/KLGĐ là vật Nhà nước cấm lưu hành, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Phạm Văn Th 01 điện thoại di động Samsung màu đen và số tiền 140.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự ; Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 01 năm 01 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16 tháng 12 năm 2019.
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu của bị cáo Phạm Văn Th 0,2733 gam (Không phẩy hai nghìn bảy trăm ba mươi ba gam)” ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định là 0,2322 gam (không phẩy hai nghìn ba trăm hai mươi hai gam) trong phong bì niêm phong số 473/KLGĐ.
2.2. Trả lại bị cáo Phạm Văn Th 01 điện thoại di động Samsung màu đen và số tiền 140.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 15 tháng 01 năm 2020 và Biên lai thu tiền số 0001541ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình).
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/02/2020.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |