- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày: 20/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hệ;
Bà Vũ Thị Thùy Đông;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Quyền - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - kiểm sát viên.
Ngày 20/5/2020 tại Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 24/4/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 06/5/2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh T, sinh năm 1998 tại xã BL, huyện ĐT, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản HB, xã BL, huyện ĐT, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 04/3/2019 bị Công an huyện ĐT, tỉnh Lai Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Vũ Đình K- Vắng mặt
Địa chỉ: Số LK đường T2, phường QT, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Vũ T T1- Vắng mặt
Địa chỉ: Số A/OX đường PNL, phường QT, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Trần Duy T2 - Vắng mặt
Địa chỉ: Số 10 đường PNL, phường QT, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 15/01/2020 Nguyễn Anh T đi xe buýt đi từ Hà Nam sang thành phố H với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực Quảng Trường thành phố H thì T xuống xe và bắt xe ôm đi xuống đường ĐB, phường QT, thành phố H rồi đi bộ về đường PNL thì gặp anh Vũ Đình K. T hỏi mua ma túy (Heroine) của anh K, anh K đồng ý. T đưa cho anh K 100.000 đồng, anh K cầm tiền đi vào trong nhà một lúc sau quay lại đưa cho T 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc, bên trong có chứa chất màu trắng đục dạng cục, bột. Vì là người nghiện ma túy nên T xác định đây là ma túy, T cầm gói ma túy trên tay phải và đi tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày khi T đi đến đầu ngõ TD đường PNL, phường QT, thành phố H thì bị tổ công tác Công an phường QT, thành phố H bắt quả tang. T đã tự giác giao nộp 01 gói ma túy trên cho cơ quan Công an.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc, trong có chứa chất dạng cục, bột màu trắng được niêm phong trong 01 bì thư dán kín, ký hiệu M1; số tiền 130.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số: 71/MT-PC09 ngày 18/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên đã kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi thu của Nguyễn Anh T, có khối lượng là 0,255 gam là ma túy, là loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định là 0,224 gam Heroine trọng niêm phong ghi thu của Nguyễn Anh T.
Tại Cơ quan điều tra, anh Vũ Đình K trình bầy: Ngày 15/01/2020 anh K có gặp T ở gần nhà anh K. Anh K và T có đứng nói chuyện và hỏi thăm sức khỏe của nhau, anh K không bán ma túy cho T.
Ngày 11/3/2020 Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Anh T đối chất với anh Vũ Đình K. T giữ nguyên lời khai về nguồn gốc số ma túy T tàng trữ ngày 15/01/2020 là do T mua của anh K. Anh K không thừa nhận bán ma túy cho T vào ngày 15/01/2020. Việc T mua ma túy của anh K không có ai chứng kiến, T cũng không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh T đã mua ma túy của anh K nên không có căn cứ để xử lý đối với anh K.
Quá trình điều tra Nguyễn Anh T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 22/QĐ-VKS-TPHY ngày 24/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Nguyễn T Anh về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
- Luận tội của Kiểm sát viên:
+ Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng.
+ Về hình phạt: Áp điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2020; Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của PC 09 - Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong có 0,244 gam Hêrôin; Trả lại bị cáo T số tiền 130.000 đồng.
+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập hồi 12 giờ 00 phút ngày 15/01/2020; Phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Vũ Đình K, ông Vũ Tuấn T1, ông Trần Duy T2 và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 35 phút ngày 15/01/2020 tại ngõ TD, đường PNL, phường QT, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Anh T đã có hành vi tàng trữ 0,255g (không phẩy hai năm năm gam) ma túy loại Hêrôin nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi trên của Nguyễn Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Nguyễn Anh T về tội danh và áp dụng điều luật như bản Cáo trạng viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, góp phần làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng gia tăng. Bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu trái pháp luật của mình là sử dụng ma túy nên bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy cần thiết phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để giáo dục bị cáo sau này không tái phạm và cai nghiện được ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,224 gam Heroine được hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy. Số tiền 130.000 đồng là tiền riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên sẽ trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ 15/01/2020.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của PC54 - Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong có 0,224 gam Hêrôin ghi thu của Nguyễn Anh T.
Trả lại bị cáo Nguyễn Anh T số tiền 130.000đ (Một trăm ba mươi ngàn đồng) tại tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
(Số lượng, đặc điểm của vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số: 17/QĐ-VKS-TPHY ngày 24/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên).
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:
| - VKSND Tp H; - Công an Tp H; - Chính quyền địa phương; - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Các đương sự; - Chi cục THA dân sự Tp H; - Lưu hồ sơ án phạt nhân thân; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lý |