- Tranh chấp gì? án hình sự — "hs - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội: “Gá bạc”; Bị cáo: Trần Anh D,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày 28 tháng 04 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH– TP HÀ NỘI
- T4 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Nguyễn Thị Vân
Ông: Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà: T6ởng Thị L – Thư ký Toà án nhân dân Huyện UH–
TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện UH- TP Hà Nội tham gia phiên
toà: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 28/04/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện UH– Hà Nội xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hình sự thụ L3 số: 18/2020/TLST-HS ngày 03/03/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST- HS ngày 01/04/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020 ngày 14/04/2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn T; Sinh năm 1985; Nơi sinh: Xã VT, huyện UH, T4 phố
Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn TB, Xã VT, huyện UH, T4 phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12. Con ông: Trần Văn P - Sinh năm 1957 và bà: Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1959; Anh chị em ruột: Có 03 người (Bị can là thứ hai); Vợ: Đặng Thị Huyền T1, sinh năm: 1988; Con: 02 con, (Con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh năm: 2016). Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/12/2019 đến ngày 14/12/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”.
(Có mặt tại phiên toà)
2. Họ và tên: Trần Anh D - Sinh năm 1985; Nơi sinh: Xã VT, huyện UH, T4 phố
Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn TB, Xã VT, huyện UH, T4 phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Văn T2 - Sinh năm 1959 và bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1959; Anh chị em ruột: Có 02 người (Bị can là thứ nhất); Vợ: Nguyễn Thị Thùy L2; sinh năm 1987; Con: 02 con, (Con lớn sinh năm: 2013, con nhỏ sinh năm: 2015); Tiền án: Không; Tiền Sự: Ngày 29/4/2019 bị công an thị trấn CS, huyện CM, TP Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc”; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/12/2019 đến ngày 14/12/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”.
(Có mặt tại phiên toà)
3. Họ và tên: T6ởng Duy T3 - sinh năm 1986; Nơi sinh: Xã TDV, huyện UH, T4
phố Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn VO, Xã TDV, huyện UH, T4 phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: T6ởng Duy L3
- Sinh năm 1966 và bà: Nguyễn Thị O - Sinh năm 1965; Anh chị em ruột: Có 03 người (Bị can là thứ nhất); Vợ: Trần Thị T4 - Sinh năm 1989; Con: 02 con, (Con lớn sinh năm: 2012, con nhỏ sinh năm: 2014); Tiền án; Tiền sự: Không; Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/12/2019 đến ngày 14/12/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”.
(Có mặt tại phiên toà)
4. Họ và tên: Nguyễn Thanh B - Sinh năm 1985; Nơi sinh: Xã VT, huyện UH, T4
phố Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn TB, Xã VT, huyện UH, T4 phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn Q - Sinh năm 1962 và bà: Nguyễn Thị L4 - Sinh năm: 1962; Anh chị em ruột: Có 03 người (Bị can là thứ hai); Vợ: Hoàng Thị Kim T1; sinh năm 1988; Con: Có 03 con, (Con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/12/2019 đến ngày 14/12/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”.
(Có mặt tại phiên toà)
5. Họ và tên: Vũ Văn K; Sinh năm: 1971; Nơi sinh: Xã VT, huyện UH, T4 phố
Hà Nội; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn TB, Xã VT, huyện UH, T4 phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Vũ Văn T6 - Sinh năm 1925 và bà: Nguyễn Thị L5 (Đã chết); Anh chị em ruột: Có 06 người (Bị can là thứ T6); Vợ: Nguyễn Thị H5 - Sinh năm 1979; Con: 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2004); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/12/2019 đến ngày 14/12/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”.
(Có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/12/2019, Nguyễn Thanh B, sinh năm 1985; Vũ
Văn K, sinh năm 1971; Trần Anh D, sinh năm 1985 đều trú cùng thôn TB, xã VT, huyện UH, T4 phố Hà Nội và T6ởng Duy T3, sinh năm 1986 trú tại thôn VO, xã TDV, huyện UH, T4 phố Hà Nội đến cửa hàng sửa xe máy của Trần Văn T, sinh năm 1985, ở thôn TB chơi. Sau đó D rủ mọi người đánh bạc được T1a bằng tiền, D nói “mấy anh em chơi tiến lên một lúc đi” tất cả đồng ý. Sau đó B nói với T “mày cho anh em chơi bài một lúc”, T đồng ý và nói “chơi thì vào trong buồng, trong đấy có cH rồi”. Tiếp đó, T dẫn mọi người vào trong buồng rồi lấy một bộ tú lơ khơ 52 quân có sẵn trên mặt bàn để xuống cH cho B, D, K và T3 đánh bạc dưới hình thức chơi tiến lên miền Nam. Khi bắt đầu chơi, K nói “anh em mình thống nhất mỗi ván ăn trắng thì bỏ ra cho chủ nhà 20.000 đồng tiền T1ốc nước”.
Hình thức đánh như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia cho bốn người
chơi mỗi người 13 quân, đánh theo vòng tay phải. Ván đầu T2 bài ai có quân bài 3 bích thì được đánh trước, các ván tiếp theo ai nhất ván trước thì được chia bài và đánh đầu T2. Quy định độ lớn của các quân theo thứ tự là 3, 4, 5….J, Q, K, Át, 2 và các chất từ lớn đến nhỏ là cơ, rô, tép, bích. Khi chơi ai đánh hết bài trước là về nhất, những người còn lại thì theo số quân bài còn trên tay để tính tiền trả cho người thắng, quy định là 5.000 đồng trên một cây bài. Chặt theo hàng là ba đôi T3 chặt được một cây 2, hoặc ba đôi T3 nhỏ hơn; bốn đôi T3 chặt được một cây 2 hoặc đôi 2, ba đôi T3, tứ quý hoặc bốn đôi T3 nhỏ hơn. Tứ quý chặt được một cây 2, đôi 2 hoặc ba đôi T3. Ai bị chặt tứ quý, bốn đôi T3 chặt ba đôi T3, hoặc bốn đôi T3 bé hơn, ba đôi T3 lớn chặt ba đôi T3 bé thì phải trả cho người chặt 30.000 đồng. Bị chặt 2 đỏ thì phải trả cho người chặt 20.000 đồng, bị chặt 2 đen thì phải trả cho người chặt 10.000 đồng. Ai không đánh được cây nào thì gọi là “cháy” và phải trả cho người thắng 50.000 đồng. Khi đã có người về nhất ai trên bài còn quân 2, hoặc ba, bốn đôi T3, tứ quý thì gọi là “thối” và phải trả cho người thắng số tiền T6ơng ứng như bị chặt đè. Tới trắng là khi người chơi lên bài có tứ quý 2, năm đôi T3, sáu đôi, sảnh (dây) liên tiếp từ 3 đến át, bốn sám cô (bốn bộ 3 quân cùng một hàng như 3 quân 3, 3 quân 4…), bài toàn màu đỏ, bài toàn màu đen. Ai được ăn trắng thì mỗi cửa trả cho người đó 60.000 đồng. Sau đó, người được ăn trắng bỏ ra cH 20.000 đồng cho chủ nhà. Trong quá trình chơi đã có ba ván tới trắng và đã bỏ ra ngoài cho T 60.000 đồng.
Các đối T6ợng đánh bạc đến 11 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Ứng
Hoà bắt quả tang.
Vật chứng T1 giữ:
+ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 3.880.000 đồng (Ba triệu tám trăm tám mười
nghìn đồng);
+ T1 trên người các đối T6ợng như sau: T6ởng Duy T3 số tiền 10.500.000 đồng
(Mười triệu năm trăm nghìn đồng), Trần Anh D số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), Vũ Văn K số tiền 1.100.000 đồng (Một tiệu một trăm nghìn đồng), Nguyễn Thanh B số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định: Số tiền T1 trên cH bạc và số tiền T1 trên người
T6ởng Duy T3, Trần Anh D, Vũ Văn K và Nguyễn Thanh B đều sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tổng số là 20.980.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 02/03/2020 của Viện kiểm sát nhân dân
Huyện UHđã truy tố các bị cáo:
+ Trần Văn T về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật
hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
+ Trần Anh D, T6ởng Duy T3, Nguyễn Thanh B, Vũ Văn K về tội: “Đánh bạc”,
theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh
luận: Căn cứ vào các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng:
+ Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã đủ yếu tố cấu T4 tội: “Gá bạc”
+ Hành vi của bị cáo Trần Anh D, T6ởng Duy T3, Nguyễn Thanh B, Vũ
Văn K đã đủ yếu tố cấu T4 tội: “Đánh bạc”.
- Về tội danh và hình phạt:
1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm i, s Khoản 1;
Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ: 15 (mƣời lăm) tháng đến 18 (mƣời tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách từ: 30 (ba mƣơi) tháng đến 36 (ba mƣơi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51
của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Anh D mức án từ: 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam. Trừ hạn tạm giữ cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s Khoản
1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo T6ởng Duy T3 mức án phạt tiền: từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
4. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s Khoản
1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B mức án phạt tiền: từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
5. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s Khoản
1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn K mức án phạt tiền: từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
- Về dân sự và xử L3 vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự
2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch T1 sung ngân sách nhà nước: Số tiền 20.980.000 đồng (Hai mươi triệu chín
trăm tám mươi nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc.
- Tịch T1 tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân
Các Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan
hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của
các bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện UHđã truy tố.
HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/12/2019, tại cửa hàng sửa xe máy của
Trần Văn T ở thôn TB, xã VT, huyện UH, T4 phố Hà Nội, T đã cho các đối T6ợng Nguyễn Thanh B, Vũ Văn K, Trần Anh D, T6ởng Duy T3 đánh bạc dưới hình thức đánh “Tiến lên miền nam” được T1a bằng tiền. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 20.980.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện UHđã đưa ra các chứng cứ buộc tội và
truy tố các bị cáo:
+ Trần Văn T về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật
hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Trần Anh D, T6ởng Duy T3, Nguyễn Thanh B, Vũ Văn K về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công
cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị c¸o nhËn thøc vµ biÕt râ cờ bạc lµ mét tÖ n¹n x· héi ®ang bÞ nhµ n íc ta ¸p dông nhiÒu biÖn ph¸p ®Êu tranh phßng chèng rÊt tÝch cùc, v× cờ bạc lµ mét hiÓm ho¹, lµ nguyªn nh©n ph¸t sinh ra c¸c lo¹i téi ph¹m h×nh sù kh¸c trong x· héi. Do kh«ng chÞu tu d ìng rÌn luyÖn ®Ó trë thµnh ng êi tèt bÞ c¸o ®· ®i vµo con ® êng ph¹m téi, hµnh vi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m trËt tù trÞ an x· héi g©y d luËn xÊu trong quÇn chóng nh©n d©n.
Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt T6ơng xứng với hành vi phạm tội của
bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.
- Xét nhân thân bị cáo: Trần Anh D chưa tiền án, có 01 tiền sự chưa được
xóa. Các bị cáo khác nhân thân chưa tiền án, chưa tiền sự.
- Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T4 khẩn khai báo, ăn năn hối
cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều có con còn nhỏ cần chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo.
- Xét vai trò bị cáo T dùng địa điểm cửa hàng sửa xe máy của mình, chuẩn bị
cH và bộ bài để các bị cáo khác đánh bạc, mỗi ván thắng bị cáo được trích hưởng lợi 20.000đ T1 lợi bất chính. Các bị cáo khác phạm tội vai trò đồng phạm đánh bạc.
- Đối với bị cáo Trần Anh D Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. CÇn ¸p dông h×nh ph¹t tï giam để ®¶m b¶o tÝnh nghiªm minh cña ph¸p luËt.
- Đối với các bị cáo Trần Văn T, T6ởng Duy T3, Nguyễn Thanh B, Vũ Văn K
cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. CÇn ¸p dông h×nh ph¹t tï cho hưởng án treo ®èi víi bÞ c¸o Trần Văn T, hình phạt tiền đối với bị cáo T6ởng Duy T3, Nguyễn Thanh B, Vũ Văn K đủ tác dụng giáo dục các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù cho hưởng án treo
đối với bị cáo Trần Văn T; hình phạt tù giam đối với bị cáo Trần Anh D; hình phạt tiền đối với bị cáo T6ởng Duy T3, Nguyễn Thanh B, Vũ Văn K là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
Về dân sự và xử L3 vật chứng:
Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng
hình sự 2015.
- Tịch T1 sung ngân sách nhà nước: Số tiền 20.980.000 đồng (Hai mươi triệu chín
trăm tám mươi nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc.
- Tịch T1 tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân
Các vấn đề khác:
Không có. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
Các Bị cáo phải chịu án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an
Huyện UH, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện UH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo T4 khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Trần Văn T phạm tội: “Gá bạc”; Bị cáo: Trần Anh D,
T6ởng Duy T3, Nguyễn Thanh B, Vũ Văn K phạm tội “Đánh bạc” 1. Áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 322; Điều 65; điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02 ngày 15/05/2018 của H§TP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng án treo.
Xử phạt: Trần Văn T 15 (mƣời lăm) tháng tù. nhưng cho hưởng án treo. Hạn
thử thách 30 (ba mƣơi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bÞ c¸o cho Uû ban nh©n d©n Xã VT – Huyện UH- Tp Hà Nội gi¸m s¸t gi¸o dôc bÞ c¸o trong thêi gian thö th¸ch.
- Tr êng hîp ng êi được h ëng ¸n treo thay ®æi n¬i c tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i Điều 92 cña luËt thi hµnh ¸n h×nh sù. “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo” theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Điều 93 của Luật Thi hành án Hình sự. 2. Áp dụng: khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Trần Anh D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án. Được trừ hạn tạm giữ từ ngày 11/12/2019 đến 14/12/2019. 3. Áp dụng: khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s Khoản 1 ; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: T6ởng Duy T3 25.000.000đ (hai mƣơi lăm) triệu đồng sung ngân
sách nhà nước. 4. Áp dụng: khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s Khoản 1 ; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Thanh B 23.000.000đ (hai mƣơi ba) triệu đồng sung ngân
sách nhà nước. 5. Áp dụng: khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Vũ Văn K 21.000.000đ (hai mƣơi mốt) triệu đồng sung ngân sách
nhà nước. Áp dụng: §iÒu 357; ĐiÒu 468 BLDS 2015; Cv Số: 99/TANDTC- KHXX ngày 01 tháng 7 năm 2009; NghÞ quyÕt 326/ 2016/UBTVQH14.
- Tr êng hîp bªn cã nghÜa vô chËm tr¶ tiÒn th× bªn ®ã ph¶i tr¶ l·i ®èi víi sè tiÒn chËm tr¶ t ¬ng øng víi thêi gian chËm tr¶.
- Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi
hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ T1Ën thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ĐiÒu 6, 7 vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù
- Về dân sự và xử L3 vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình
sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch T1 sung ngân sách nhà nước: Số tiền 20.980.000 đồng (Hai mươi triệu chín
trăm tám mươi nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc.
- Tịch T1 tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. (Giấy Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử vào Chi cục thi hành án dân sự Huyện UHngày 06/03/2020; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/03/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự Huyện UH).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố
tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Mỗi Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
BÞ cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - C«ng an Huyện UH - ViÖn kiÓm s¸t NDHuyện UH - ViÖn kiÓm s¸t NDTPHN - Sở T6 pháp HN - Tr¹i giam HN - Thi hµnh ¸n d©n sù Huyện UH - Thi hµnh ¸n h×nh sù; - Ủy ban ND x· VT; - L u hå s¬ vô ¸n; - L u VP; - BÞ c¸o, Ng êi tham gia tố tụng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Phong |