- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q cùng Bùi Văn T phạm tội mua bán, tàng trữ TPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày: 29/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Ngọc Hân
Ông Nguyễn Quang Sáng
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Kiều Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:
1, NGUYỄN VĂN Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1987 tại huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT: Khu 7, xã ML, huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn C, sinh năm 1969. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Tân Lập, Bộ Công an; Mẹ đẻ: Xa Thị C1 (đã chết). Vợ: Hà Thị Thu D, sinh năm 1990. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/01/2020 đến ngày 15/01/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ (có mặt).
2, BÙI VĂN T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 01 năm 1991 tại: huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký HKTT: Khu C, xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ Bùi Văn N, sinh năm 1969; Mẹ đẻ Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; Vợ: Mã Thị P, sinh năm 1995; Con: Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/01/2020 đến ngày 14/01/2020 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại tại địa phương (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Q: Bà Hoàng Thị Thanh Hải - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Hà Thị Thu D
Sinh năm 1990 (có mặt)
Nơi cư trú: Khu 7, xã ML, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Người làm chứng:
Anh Nguyễn Đình T
Sinh năm 1987 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu Đ, xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 08/01/2020, tại khu Đồng Ve, xã ML, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác thuộc Công an huyện YL phối hợp với Công an xã ML bắt quả tang Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trên người 01 gói nilon màu đen dán kín, mở ra bên trong gói nilon màu đen có 03 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng ở giữa đều chứa chất bột, cục màu trắng, T khai chất bột cục màu trắng là ma túy, T vừa mua hồi 14 giờ 00 phút ngày 08/01/2020 của Nguyễn Văn Q với giá 1.000.000 đồng về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong vật chứng 03 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng ở giữa đều chứa chất bột, cục màu trắng, thu giữ của T tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành 50.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI đã cũ.
Căn cứ vào lời khai của T, Cơ quan điều tra đã triệu tập, lấy lời khai Nguyễn Văn Q, tại Cơ quan điều tra Q khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/01/2020, khi Q đang ở nhà thì T gọi điện hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy, Q đồng ý và hẹn T lên khu vực tái định cư thuộc khu 7, xã ML, huyện YL gặp nhau. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô Honda Vison màu trắng, BKS 19H1-23759 (xe của vợ chồng Q) đến khu tái định cư xã ML, thì gặp T đang đứng ở lề đường, T đưa cho Q 1.000.000 đồng. Q cầm tiền rồi bảo T đợi, Q điều khiển xe mô tô đến cầu mới thuộc xã ML, huyện YL, gặp một người đàn ông ngồi trên một chiếc xe mô tô, Q không biết tên, tuổi địa chỉ người đàn ông này, Q hỏi mua 900.000 đồng ma túy, người đàn ông lạ mặt đồng ý. Q đưa cho người đàn ông này 900.000 đồng từ số tiền 1.000.000 đồng T vừa đưa cho Q, người đàn ông cầm tiền rồi lấy trong người ra 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa ma túy đưa cho Q. Q cầm lấy gói nilon màu đen rồi quay lại gặp T, khi đến gần T, Q cầm gói nilon màu đen có chứa ma túy ném xuống gần chân T để cho T nhặt, rồi Q nhanh chóng điều khiển xe mô tô về nhà. Quá trình làm việc Q giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S cũ là chiếc điện thoại Q liên lạc bán ma túy cho T, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Vison màu trắng, BKS:19H1-23759 đã cũ, 100.000đ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành.
Ngày 08/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YL ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 06 đối với nơi ở của Nguyễn Văn Q, quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật gì.
Ngày 08/01/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YL ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định số ma túy thu giữ trên người Bùi Văn T. Tại bản kết luận giám định số 136/KLGĐ ngày 11/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận: “Mẫu chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 03 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng gửi giám định là ma túy; có khối lượng là: 0,129 gam, loại: Heroine.
*Heroin là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,129 gam ma túy loại Heroine để sử dụng của Bùi Văn T đã đủ định lượng cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi của Nguyễn Văn Q bán trái phép 03 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng ở giữa đều chứa chất bột, cục màu trắng có khối lượng 0,129 gam ma túy loại Heroine cho Bùi Văn T với giá 1.000.000 đồng đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSYL ngày 04/5/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo: Nguyễn Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn Q từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ khi bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08/01/2020.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Bùi Văn T từ 21 tháng đến 24 tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ (Từ 08/01/2020 đến ngày 14/01/2020). Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
Áp dụng khoản 4 Điều 123 BLTTHS. Duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Bùi Văn T và kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật và bị cáo Bùi Văn T đi chấp hành án phạt tù.
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS, điểm a,b khoản 2, khoản 3, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu để tiêu hủy gồm: 0,049 gam chất bột, cục màu trắng còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ và các chữ ký của các thành phần có liên quan tại các mép dán;
Tịch thu để nộp ngân sách nhà nước số tiền: 100.000 đồng thu giữ của Q;
Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI cũ thu giữ của T; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S cũ thu giữ của Q;
Trả lại cho T số tiền 50.000 đồng, nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự.
Trả lại cho 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Vison màu trắng, BKS:19H1-23759 cho chị Hà Thị Thu Dung.
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trợ giúp viên pháp lý, bà Hải bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, Bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do bị nghiện ma túy và chỉ vì mục đích kiếm tiền bất hợp pháp nên bị cáo đã buôn bán ma túy. Nhất trí đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo được hưởng 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS vì bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị để bị cáo có thời gian cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, Trợ giúp viên pháp lý và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Các Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo được cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/01/2020, tại khu 7 xã ML, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn Q đã bán trái phép 0,129 gam ma túy loại Heroine với giá 1.000.000 đồng cho Bùi Văn T.
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 08/01/2020 tại khu Đồng Ve, xã ML, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,129 gam ma túy loại Heroine trên người mục đích để sử dụng bị phát hiện và bắt quả tang.
Sự khai nhận này hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,129 gam ma túy loại Heroine đã cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Văn Q bán trái phép 0,129 gam ma túy loại Heroin cho Bùi Văn T với giá 1.000.000đ đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ, truy tố các bị cáo về tội danh là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, ….
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự về Tội mua bán trái phép chất ma túy.
“1.Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”
Xét tính chất vụ án: Các bị cáo đều phạm các tội nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy Heroine của bị cáo Q và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine của bị cáo T đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, các chất gây nghiện, chất hướng thần. Bởi vì ma túy để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản,...để có tiền mua bán, sử dụng trái phép ma túy. Các hành vi đó đã gây mất trật tự an ninh trong khu vực. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội hiện nay.
Xét nhân thân của từng bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Tại cơ quan cảnh sát điều tra và phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội và hối hận đối với hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Q là dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xong cũng cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để cải tạo các bị cáo sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 BLHS và khoản 5 Điều 251 BLHS có quy định chung: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Theo các biên bản xác minh tài sản ngày 01/4/2020 của Công an huyện YL và tại phiên tòa đã xác định:
Bị cáo T đang sống cùng gia đình thu nhập chính làm ruộng, làm thuê có thời vụ, thu nhập bình quân 2.000.000đ/người/tháng. Bị cáo hiện tại không có tài sản gì có giá trị.
Bị cáo Q đang sống cùng gia đình thu nhập chính làm ruộng, làm thuê, thu nhập bình quân 1.750.000đ/người/tháng. Bị cáo, hiện tại không có tài sản gì có giá trị.
Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông, Q không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể ở khu cầu mới, thuộc xã ML, huyện YL bán ma túy Q với giá 900.000 đồng, để Q bán lại cho T kiếm lời. Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Đình T, sinh năm 1987, ở khu Đ, xã LS, huyện YL, Khi Công an huyện YL bắt quả tang Bùi Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có Thực đi cùng. Quá trình điều tra Thực khai nhận không biết việc mua và tàng trữ trái phép chất ma túy của T, không có chứng cứ nào khác chứng minh Nguyễn Đình Thực liên quan đến hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy của Bùi Văn T. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Thực là phù hợp.
Xét về vật chứng gồm:
Đối với 0,049 gam chất bột, cục màu trắng còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ và các chữ ký của các thành phần có liên quan tại các mép dán, là vật chứng bị cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Q; 01 chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu HUAWEI cũ thu giữ của T; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S cũ thu giữ của Q. Số tiền có được do thu lợi bất chính, 2 chiếc điện thoại dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 50.000 đồng quá trình điều tra và tại phiên toà đã chứng minh đây là số tiền hợp pháp của T không sử dụng vào việc mua ma túy, do vậy cần trả lại cho T, nhưng cần được tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự.
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Vison màu trắng, BKS:19H1-23759 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn Q và vợ là Hà Thị Thu D, tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và đã mua tại Công ty TNHH Bình Minh 5, có địa chỉ tại huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ và đang trả góp tại Công ty tài chính TNHH một thành viên HOME CREDIT Việt Nam có địa chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại chị Hà Thị Thu D vẫn đang thực hiện nghĩa vụ trả góp hàng tháng (đến tháng 2/2021 mới thực hiện xong). Khi bị cáo Q dùng làm phương tiện phạm tội thì chị D không biết. Do vậy cần trả lại chiếc xe môtô trên cho chị D là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YL, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, xử lý vật chứng cơ bản là phù hợp, đối với T hình phạt còn nghiêm khắc. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS và phần hình phạt là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt Nguyễn Văn Q 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2020.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Phạt Bùi Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ (Từ 08/01/2020 đến ngày 14/01/2020). Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 123 BLTTHS. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Bùi Văn T kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật và bị cáo Bùi Văn T đi chấp hành án phạt tù.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 47 BLHS, khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu để tiêu hủy gồm: 0,049 gam chất bột, cục màu trắng còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ và các chữ ký của các thành phần có liên quan tại các mép dán;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI cũ; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S cũ;
Trả lại cho T số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), nhưng cần được tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự.
Số tiền đang được tạm gửi ngày 30/3/2020 tại tài khoản số 39490105441200000 kho bạc nhà nước huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Trả lại cho 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Vison màu trắng, BKS:19H1-23759 cho chị Hà Thị Thu Dung.
Toàn bộ vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án huyện YL, tỉnh Phú Thọ, theo biên bản giao nhận ngày 04/5/2020.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q và Bùi Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện + tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA huyện; - THAHS; Cơ quan THAHS CA huyện; - Trại tạm giam CA tỉnh; - Chi cục THADS; - Bị cáo; NCQLNVLQ; - Người bào chữa; - Lưu HS,VP (13b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |