vanban.org

Bản án 17/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác T Bò) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác T Bò) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 10 tháng 01 năm 2020. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA HSST bị cáo Nguyễn Văn T - Vi phạm QĐ về tham gia GTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác T Bò) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HS-ST
Ngày 06 - 5 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Chinh

Bà Phạm Thị Minh.

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/9/1993 (tên gọi khác T B); Nơi sinh và cư trú: Khu 1 thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962; vợ: Dương Thị Minh H, sinh năm 2000; có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 60/2012/HSST ngày 21/9/2012, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em”.

Bị bắt tạm giam từ ngày 10/01/2020 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1947 (đã chết).

-Những người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1, Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1945 (vắng mặt).

2, Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 (vắng mặt).

3, Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1973 (vắng mặt).

4, Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1975 (vắng mặt).

5, Anh Nguyễn Trọng G, sinh năm 1980 (có mặt).

6. Chị Nguyễn Thị E, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cùng cư trú: Thôn P, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện theo ủy quyền của Bà C, chị H, chị A, anh D, chị E là anh Nguyễn Trọng G, sinh năm 1980 (Văn bản ủy quyền ngày 02/12/2019) ( phiên tòa có mặt anh G).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 21/11/2019, Nguyễn Văn T chưa có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88C - 003.95 đi trên đường tỉnh lộ 304 hướng từ thị trấn Y về xã T, huyện Y. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh lộ 304 với đường vành đai 3 hướng về thị trấn Y với tốc độ khoảng 30 đến 40km/h. Lúc này T quan sát thấy xe đạp do ông Nguyễn Xuân Đ điều khiển đang đi ở phần đường bên phải đường vành đai 3 theo hướng từ thị trấn Y vào ngã tư. Khi xe ô tô của T cách vạch kẻ đường dành cho người đi bộ trên đường vành đai 3 khoảng 07m hướng về thị trấn Y thì xe đạp của ông Đ đang chuyển hướng quay đầu ở giữa đường vành đai 3. Do khoảng cách giữa hai xe gần và đi với tốc độ cao nên đầu xe bên trái xe ô tô của T va chạm với phần đầu cùng bên phải xe đạp của ông Đ làm ông Đ ngã ra đường, xe ô tô của T rê trên đường khoảng 10m thì dừng lại. Hậu quả ông Đ bị thương phải đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đến ngày 22/11/2019 thì tử vong.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng là ô tô biển kiểm soát 88C-003.95 do T điều khiển, thu giữ xe đạp của ông Nguyễn Xuân Đ, khám các phương tiện tham gia giao thông theo quy định.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã tư giao nhau giữa đường vành đai 3 với tỉnh lộ 304 thuộc thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện trường nhìn theo hướng từ xã Y đi thị trấn Y, ngã tư này không có vòng xuyến, đường vành đai 3 là đường đôi trải nhựa rộng 11m, mặt đường khô ráo, bằng phẳng. Vị trí tai nạn ở đầu đường vành đai 3 hướng đi thị trấn Y. Lối mở đường này vào ngã tư rộng 48,9m. Trước các đầu đường đi vào ngã tư đều có biển báo hiệu nguy hiểm, chỉ dẫn đường và cột đèn tín hiệu giao thông. Lấy tâm cột điện đôi ở lề đường tỉnh lộ 304 bên trái hướng từ xã B về xã T làm mốc chuẩn, lấy mép đường phải của đường vành đai 3 theo hướng từ xã T đi thị trấn Y làm mép chuẩn. Hiện trường để lại 01 xe ô tô biển kiểm soát 88C: 003.95 nhãn hiệu KIA dừng trên mặt đường, đầu hướng đi thị trấn Y; 01 xe đạp nữ sơn màu trắng hồng nằm đổ nghiêng bên trái đầu quay vào mép đường trái theo hướng từ xã Y về thị trấn Y. Các số đo được tính bằng mét (m). Các dấu vết để lại tại hiện trường được thể hiện tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường ngày 21/11/2019 (bút lục 28, 29, 30); biên bản khám phương tiện giao thông ngày 23/11/2019 (bút lục 35, 36, 37, 38).

Ngày 22/11/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc ra Quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Xuân Đ. Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 132/TT ngày 03/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Dấu hiệu chính qua giám định: Nhiều vết xây sát da, ít vết thương rách da cơ. Chấn thương sọ não nặng: Rạn vỡ xương hộp sọ vùng chẩm sau. Nguyên nhân chết là do chấn thương sọ não sau điều trị không hồi phục”.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại 100.000.000 đồng, anh Nguyễn Trọng Đ là đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ngày 07/01/2020 Cơ quan điều tra trả cho Nguyễn Văn T 01 xe ô tô biển 88C-003.95; ngày 09/01/2020 trả cho anh Nguyễn Trọng Đ 01 xe đạp của ông Đ.

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 27/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, đề nghị phạt bị cáo T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/11/2019, Nguyễn Văn T không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 88C-003.95 đi từ thị trấn Y theo đường tỉnh lộ 304 về xã T. Đến ngã tư giao nhau với đường vành đai 3 thuộc thôn M, xã T, T rẽ trái đi vào đường vành đai 3 hướng về thị trấn Y. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không đảm bảo an toàn nên xe ô tô của T điều khiển va chạm vào xe đạp của ông Nguyễn Xuân Đ điều khiển tại đầu lối mở đường vành đai 3. Hậu quả làm ông Đ ngã ra đường bị thương nặng sau đó tử vong.

Xét lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai người làm chứng, kết luận giám định về tử thi của Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Như vậy đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn T không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, điều khiển xe ô tô không chấp hành về tốc độ, biển báo hiệu đường bộ, qua nơi đường giao nhau, đã đâm vào xe đạp do ông Nguyễn Xuân Đ điều khiển tại đầu lối mở đường vành đai 3 hậu quả ông Đ bị thương nặng sau đó tử vong. Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

1, Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm.

3, Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức”.

Vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ:

“Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định: Các hành vi bị nghiêm cấm:

Khoản 9: Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.

Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định:

Người lái xe,... phải tuân thủ quy định về tốc độ chạy xe trên đường”.

Đối chiếu với Bộ luật Hình sự năm 2015, Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

a, Không có giấy phép lái xe theo quy định’’.

Xét tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của ông Đ. Như chúng ta biết trong những năm qua mặc dù Đảng và Nhà nước ta có nhiều biện pháp nhằm giảm bớt các vụ tai nạn giao thông nhưng tình trạng vi phạm các quy định an toàn giao thông đường bộ vẫn xảy ra hàng ngày, hàng giờ đã cướp đi biết bao sinh mạng con người và làm cho nhiều người bị tàn phế, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người tham gia giao thông mỗi khi ra đường. Nguyên nhân của tình trạng trên là do ý thức của người tham gia giao thông đã không thực hiện nghiêm chỉnh Luật Giao thông đường bộ, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe ô tô, điều khiển xe ô tô không tuân thủ quy định về biển báo hiệu nguy hiểm, về tốc độ tại nơi đường giao nhau. Trong vụ án này lỗi chính do bị cáo gây ra vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Có như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo đối chiếu với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận biết được hành vi nào pháp luật cấm. Bị cáo điều khiển xe ô tô trong khi không có giấy phép lái xe, không làm chủ tốc độ, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, nên đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng gây nên cái chết của ông Nguyễn Văn Đ. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao, xong xét thấy ở cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại, đại diện bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2012 đã bị Tòa án xét xử về tội “Giao cấu với trẻ em” đến nay đã được xóa án tích. Trong thời gian chờ xử lý lại bị khởi tố về tội “Buôn bán hàng cấm” do vậy Hội đồng xét xử chỉ xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại 100.000.000 đồng, nhận đủ tiền đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo không có giấy phép lái xe nên không cần cấm bị cáo lái xe.

Về xử lý vật chứng: Chiếc ô tô biển kiểm soát 88C-003.95 quá trình điều tra xác định là tài sản Nguyễn Văn T mua của anh Nguyễn Văn F; xe đạp của ông Nguyễn Xuân Đ. Cơ quan điều tra đã trả tài sản cho bị cáo T và anh G là đại diện hợp pháp của ông Đ. Nhận lại tài sản bị cáo T và anh G không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác T Bò) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác T Bò) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 10 tháng 01 năm 2020.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 3 năm 2020 giữa Công an huyện Yên Lạc và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Lạc).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, đại diện người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án. Đại diện người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ