- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Văn Phương- Phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày 21-02-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiên - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/HSST ngày 21-01-2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Văn P, sinh năm 1999; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã P, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Trình độ văn hoá: 07/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn D và bà Nguyễn Thị L
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2019 đến ngày 02/01/2020 và chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.
- Người làm chứng: Ông Phùng Văn N, sinh năm 1962.
Trú tại: thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng
Ông N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vũ Văn P là ngƣời nghiện ma tuý. Khoảng 12 giờ, ngày 27/12/2019, P đi bộ từ nhà ra đƣờng 391 bắt xe bus xuống khu vực phố Q, xã N, huyện Tứ Kỳ tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, P gặp và mua của một ngƣời đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 01 túi nilon, kích thƣớc 2x1,5cm, bên trong đựng ma tuý tổng hợp với giá 300.000 đồng. P cất giấu túi ma tuý vào túi quần trƣớc bên phải đang mặc đi bộ về. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, khi P đi đến ngã tƣ Q, xã N thì bị Công an huyện Tứ Kỳ bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trƣớc bên phải một túi nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể mầu trắng.
Tại Kết luận giám định số 54/KLGĐ-PC09 ngày 29/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng, niêm phong trong phong bì ghi thu của Vũ Văn P gửi đến giám định có khối lƣợng 0,359 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS-TK ngày 20-01-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Vũ Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Vũ Văn P từ 14 đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tịch thu tiêu hủy 0,300 gam Methamphetamine do hoàn lại sau giám định; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố về tội danh của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là đúng, bị cáo hối hận về hành vi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 27/12/2019, tại ngã tƣ phố Q, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Vũ Văn P có hành vi cất giấu trái phép 0,359 gam là ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính ngƣời sử dụng mà còn làm ảnh hƣởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì mục đích sử dụng cho bản thân để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo vẫn tiếp tục dấn thân vào con đƣờng phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trƣớc pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tƣợng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,300 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Trong vụ án này, đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo, không xác định đƣợc tên, tuổi cụ thể nên Cơ quan điều tra- Công an huyện Tứ Kỳ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 27/12/2019.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ 0,300 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định, đƣợc đựng trong bì thƣ dán kín, có chữ ký và dấu niêm phong;
Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 22 -01-2020).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Vũ Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam -CA tỉnh HD (02 bản để giao cho bị cáo 01 bản) - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự huyện Tứ Kỳ - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công huyện Tứ Kỳ; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |