- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN D D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 17 /2020/HS-ST Ngày: 21 /4 /2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Thuật;
Ông Lò Văn Dưỡng.
Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 03 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41 /2020/QĐXXST-HS ngày 09/3/2020 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 53 ngày 03/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp đối với bị cáo:
Lò Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1980, tại huyện S, tỉnh Sơn La
Cư trú tại: Bản Hốc M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; con ông Lò Văn Ê và bà Lò Thị O; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị tạm giam từ ngày 23/11/2019 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Vì Văn P, sinh năm 1975, trú tại bản H, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; có mặt.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23 tháng 11 năm 2019 Lò Văn D đi xe máy mượn của Vì Văn P, cùng trú tại H, xã M đi đến nhà của Vàng A S ở bản Phiêng Chiềng, xã Mường Cai, huyện Sông Mã để trả cho anh So chiếc thuổng, khi quay về trên đường gặp và mua của một người không quen biết được 03 viên Hồng phiến với số tiền 30.000 đồng, D đã sử dụng hết 01 viên còn lại 02 viên cất giấu cạnh đồng hồ Công tơ xe máy, khi về đến bản Pá Hốc thì bị Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 viên Hồng phiến và 01 xe máy hiệu Honda Blade màu đỏ biển kiểm soát 26F1- 060 65. D bị dẫn giải đến cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp để điều tra làm rõ.
Ngày 27/11/2019 tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng 02 viên nén màu hồng của D có khối lượng 0,18 gam ký hiệu D, trích 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 gam gửi giám định, còn lại 01 viên có khối lượng 0,09 gam ký hiệu D1 là vật chứng lưu kho.
Tại bản kết luận giám định số 1697 ngày 29/11/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy; loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18gam; loại: Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 18 /CT-VKSSC ngày 02 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 16 tháng đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Vật chứng còn lại 01(một) phong bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn la, bên trong có 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng ký hiệu D1 có khối lượng 0,09 gam, xử lý theo quy định của pháp luật.
01(một) chiếc xe máy Hon da Blade màu đỏ, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Vì Văn P.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc 0,18 gam Methamphetamine, bị cáo D khai mua của một người dân tộc không quen biết, ngoài lời khai của bị cáo không còn căn cứ khác chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo, vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn D khai nhận ngày 23 tháng 11 năm 2019 có mua 03 viên Hồng phiến, đã sử dụng 01 viên còn lại 02 viên cất giấu bên cạnh đồng hồ Công tơ xe máy do D đang điều khiển, đã bị Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 15 giờ 10 phút ngày 23 tháng 11 năm 2019; Biên bản cân tịnh vật chứng ngày 27/11/2019, kết luận giám định số 1697, ngày 27/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, vật chứng của vụ án là 0,18 gam ma túy loại Methamphetamine.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, nhận thức được Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và để phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Năm 2001 bố đẻ của bị cáo là ông Lò Văn Ê là người có công với Nhà nước, được tặng thưởng Huân Chương kháng chiến hạng Ba, cần áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với các căn cứ nêu trên. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí với tội danh và điều luật áp dụng, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng.
Về vật chứng:
Vật chứng còn lại 01(một) phong bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã niêm phong kín bên trong có 01 phong bì thư niêm phong ban đầu chứa 0,09 gam ma túy là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
01 xe máy Honda hiệu Blade, màu đỏ qua điều tra xác định được bị cáo mượn của Vì Văn P là anh rể của bị cáo, sau khi cho mượn ông Phinh không biết bị cáo D đã dùng làm phương tiện phạm tội, nên cần trả lại cho ông Vì Văn P.
Về án phí :
Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Lò Văn D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/11/2019.
Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì thư của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn la đã được niêm phong dán kín, bên trong có 01 viên nén hình tròn, màu hồng ký hiệu D1 có khối lượng 0,09 gam.
Tuyên trả cho ông Vì Văn P 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ, biển kiểm soát 26F1- 06065, số khung: RLHJA 3616EY 009247, số máy JA36E-0028548, xe đã qua sử dụng; Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 3 năm 2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện và Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Lò Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo : Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/4/2020).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Công an huyện Sốp Cộp; - Thi hành HS; - Trại giam; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Thi HADS huyện Sốp Cộp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Ngọc Tam |