- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn H, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày 10 - 3- 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Viễn, ông Lò Văn Thôn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/TLST- HS ngày 19 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/HSST-QĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo sau đây:
Họ và tên: Lò Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992; Nơi sinh: Sông Mã - Sơn La. Nơi ở và ĐKHKTT: Bản M, xã CS, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng phái, Đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn Doan và bà Lò Thị B; Vợ Lường Thị D và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đến khoảng 19 giờ ngày 19/11/2019, H điều khiển xe mô tô BKS 21B1-218.73 mang theo số tiền 260.000 đồng (theo H khai tiền của Lò Văn H1, sinh năm 1976 trú tại bản C, xã CS, huyện Sông Mã) nhờ đi mua hộ ma túy. H mang xe đến gửi tại nhà cô họ là Lò Thị H2, sinh năm 1978 ở bản NC, xã CS rồi xin nhờ xe của người qua đường vào bản K, xã HM. Đến nơi H đi bộ đến giữa bản gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết hỏi 03 viên Hồng phiến và 01 cục Heroine với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, H trích một ít Heroine ra sử dụng, số ma túy còn lại H cho vào túi áo khoác đang mặc đi về. Khoảng 02 giờ ngày 20/10/2019 khi H đi bộ về đến bản NP, xã HM thì bị Công an xã HM kiểm tra test thử ma túy, kết quả H dương tính với ma túy. Sau đó Công an xã HM đã bàn giao H cho Công an xã CS để làm thủ tục đưa H đi cai nghiện ma tuý bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy. Quá trình bàn giao không phát hiện gói ma túy H cất giấu.
Đến 08 giờ ngày 20/10/2019, Công an xã CS đưa H đến Cơ sở điều trị nghiện ma tuý huyện Sông Mã để tạm gửi chờ TAND huyện Sông Mã ra Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Trong thời gian chờ làm thủ tục khám sức khoẻ và kiểm tra người để vào cơ sở, lợi dụng không ai để ý H lấy gói ma tuý từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc ra nhét vào trong hậu môn của mình để tránh bị phát hiện. Đến 11 giờ cùng ngày, H được cán bộ của Cơ sở điều trị nghiện ma tuý đưa ra khu vực bể nước để kiểm tra người cho tắm rửa, lợi dụng lúc không ai để ý, H đã dùng tay móc gói ma tuý được bọc bằng nilon từ trong hậu môn ra thả vào góc bên trái cạnh bể nước, sau đó H được đưa về phòng của học viên. H nói chuyện với học viên Nguyễn Văn C, sinh năm 1979, trú tại bản TL, xã CS đi ra ngoài bể nước lấy gói ma tuý để cùng nhau sử dụng, nhưng C không đi lấy mà báo lại sự việc cho học viên H. Sau đó H đi ra bể nước phát hiện gói nilon màu hồng chứa ma tuý tại góc trái bên cạnh bể nước, H mang gói ma túy về phòng thì H thừa nhận, nên H đã tố giác H về hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý với Ban giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma tuý, sau đó Ban giám đốc Cơ sở đã báo cho Công an huyện Sông Mã đến phối hợp lập biên bản bắt người phạm tội và thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 03 viên nén màu hồng và 01 cục chất bột liên kết màu trắng (theo H khai là Heroine và Methamphetamine) vật chứng được niêm phong theo quy định.
Ngày 22/10/2019 tại Phòng ky thuâ ̣̃
t hinh sự Công an tinh Sơn La đã ti ến̉
̀
hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: 03 viên nén màu hồng có khối lượng 0,28 gam, kết quả giám định là loại Methamphatamnine; số chất bột màu trắng có khối lượng 0,42 gam, kết quả giám định là loại Heroine.
Nguồn gốc số ma túy thu giữ Lò Văn H khai nhận mua của một người đàn ông dân tộc Mông ngày 19/10/2019 tại bản Khua họ, xã HM, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Do các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSSM, ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lò Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lò Văn H từ 20 đến 26 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có tranh luận gì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi phạm tội: Bị cáo Lò Văn H là người có nhận thức, biết được mọi hành vi liên quan đến ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện chất ma túy ngày 19/10/2019, bị cáo đi mua và cố ý tàng trữ 0,23 gam Methamphatamine và 0,42 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau:
Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 20/10/2019 tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy huyện Sông Mã của ban giám đốc Cơ sở điều trị nghiện ma túy huyện Sông Mã về việc Lò Văn H cất giấu trái phép chất ma túy cùng vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa 03 viên nén có khối lượng 0,28 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 cục có khối lượng 0,42 gam loại Heroine.
Biên bản mở niên phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong vật chứng hồi 11 giờ 00 phút ngày 22/10/2019 và kết luật giám định số 1616 ngày 30/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp biên bản khám nghiện hiện trường cùng với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Lò Văn H đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, mặc dù nhận thức được mọi hành vi liên quan đến chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đảm bảo biện pháp răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nhận tội là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về nguồn gốc chất ma túy: Đối với người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo tại bản KH, xã HM vào ngày 19/10/2019. Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng cụ thể ngoài lời khai của bị cáo ra không có căn cứ nào khác, nên CQĐT không có căn cứ để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[7] Đối với các tình tiết liên quan:
- Đối với Lò Văn H theo H khai báo là người đưa tiền nhờ H đi mua hộ ma túy vào chiều ngày 19/10/2019 tại nhà H. Tuy nhiên qua lấy lời khai, đối chất với H, H không thừa nhận được đưa tiền nhờ H đi mua hộ ma túy. Quá trình điều tra không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh việc H đưa tiền nhờ H đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có đủ căn cứ để xử lý đối với H.
[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với 03 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu; 01 áo khoác bằng vải, mặt ngoài màu vàng cam, nhãn hiệu H&H Fashion là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn H, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 26 (hai sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 03 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu; 01 áo khoác bằng vải, mặt ngoài màu vàng cam, nhãn hiệu H&H Fashion.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 18/02/2020 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sở thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - THAHS + DS; - STP tỉnh; - Bị cáo; - Chánh án; - Lưu hồ sơ; -Lưu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đèo Văn Quỳnh THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đèo Văn Quỳnh |