- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Đoàn Đức C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| Toµ!¸n!nh©n!d©n! !!HuyÖn!B×nh!lôc! !!!!!tØnh!hµ!nam! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-ST Ngày: 20 - 5 - 2020 - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Sự. 2. Bà Lê Thị Thanh. Tòa án nhân dân huyện Bình Lục. Ông Nguyễn Văn Quyên - Kiểm sát viên. sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2020/TLST-HS ngày 01/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS ngày 06/5/2020, đối với bị cáo: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Th (đã chết) và bà Ngô Thị N; vợ: Bùi Thị O; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/01/2016 Công an huyện T tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/3/2020, chuyển tạm giam từ ngày 11/3/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt. |
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 08/3/2020, tổ công tác của Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã L tuần tra tại đoạn đường D13 thuộc địa bàn thôn Đ, xã, huyện B phát hiện Đoàn Đức C đang đi bộ, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. C đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi ni lông màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa màu xanh, bên trong túi chứa tinh thể màu trắng mà C đang cầm trong lòng bàn tay phải, C khai nhận đó là ma túy đá cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa Chiến về trụ sở UBND xã L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là 01 túi ni lông màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Ngay sau khi bắt giữ đối tượng, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Đức C tại thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra, Đoàn Đức C khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 08/3/2020, C đi bộ từ nhà đến khu vực cầu Đen thuộc xã L, huyện B để mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực cầu Đen, C thấy một người đàn ông đang đứng một mình ở chân cầu, C lại gần và hỏi “Anh có ma túy đá không để cho em một ít” thì người đàn ông đó nói “Mua bao nhiêu, tiền đâu”. C đưa cho người này 300.000 đồng, người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho C 01 túi ni lông màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng. C cầm túi ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về phía thôn Đ, xã L, huyện B để tìm chỗ sử dụng. Khi đi đến đoạn đường D13 thuộc địa bàn thôn Đ, xã L, huyện B thì Chiến bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 279/GĐKTHS ngày 09/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi ni lông màu trắng miệng túi có kẹp nhựa màu xanh được niêm phong ký hiệu QT gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu QT: 0,443 gam”.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-MT ngày 01/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đoàn Đức C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố C và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Không phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu vật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Đức C khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.
[3] Về tội danh: Hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, có khối lượng 0,443 gam loại ma túy: Methamphetamine của bị cáo Đoàn Đức C bị lực lượng Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang vào hồi 16 giờ ngày 08/3/2020 tại đoạn đường D13 thuộc địa bàn thôn Đ, xã L, huyện B, tỉnh Hà Nam đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh khó khăn, bố đã chết do bệnh ung thư, mẹ sức khỏe yếu không làm được việc nặng, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, bố đã chết, mẹ thì đau ốm nhưng không tu chí làm ăn, sống có ích cho gia đình và xã hội; bản thân bị cáo ngày 26/01/2016 đã bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt cảnh cáo, bị cáo không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân mà vẫn nghiện ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Song xét bị cáo khai báo thành khẩn, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố đã chết, mẹ sức khỏe yếu, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Xuất phát từ tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn huyện B, nhất là tội phạm về ma túy, ba ngành làm án huyện B đã thống nhất xác định đây là vụ án trọng điểm, nhằm đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, đồng thời tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân trên địa bàn huyện.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy tại biên bản xác minh ngày 12/3/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B thì bị cáo không có tài sản gì, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy loại: Methamphetamine được niêm phong trong phong bì số 279/GĐKTHS là vật cấm tàng trữ, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc số ma túy loại Methamphetamine: Bị cáo xác định số ma túy trên là do bị cáo mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực cầu Đen, xã L, huyện B với giá 300.000 đồng, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xác định đối tượng có liên quan để xử lý cũng không làm rõ được nguồn gốc số ma túy mà bị cáo cất giấu.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Đức C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Đoàn Đức C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 08/3/2020).
3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Methamphetamine trong phong bì niêm phong mặt trước phong bì có số 279/GĐKTHS. (Vật chứng được xác định tại biên bản giao nhận vật chứng hồi 11 giờ 00 phút ngày 01/4/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Nam).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Đức C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i!nhËn:!
| - TAND tØnh Hµ Nam;! - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyÖn B; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi côc THADS huyÖn B; - C«ng an huyÖn B; - UBND xã L, huyện T; - BÞ c¸o; - Lu HS; VP. ! | TM.!Héi!§ång!xÐt!xö!s¬!thÈm! ThÈm"ph¸n"–"Chñ"to¹"phiªn"toµ" !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!(Đã!ký)! """"""""""""""Nguyễn!Thị!Kim!Ngân! " ! |