vanban.org

Bản án 17/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 14/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum về mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H. Xử phạt Bùi Văn H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 47/2020/HS-ST Tuyên án 29/09/2020
Phúc thẩm — đang xem Bản án 17/2020/HS-PT Tuyên án 14/12/2020

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Huế phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HS-PT
Ngày: 14 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tỷ.

Các thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Văn Pho;

2. Bà Dương Thị Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trúc Mai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2020/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo Bùi Văn H do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

- Bị cáo kháng cáo:

Bùi Văn H, sinh ngày 04/5/1980 tại tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Thôn Măng T, xã P, huyện Ngọc H, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L (đã chết) và bà Bùi Thị Th (đã chết); Có vợ là Bùi Thị L và 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, Tiền sự: Không; Về nhân thân: Tại bản án số 32/2014/HSST ngày 12-11-2014 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xử phạt Bùi Văn H 05 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 18-02-2018; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21-5-2020, Hồ Thế Tâm điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển kiểm soát 81A – 071.20 chở bị cáo H đi đến đường Trần Hưng Đạo thuộc tổ dân phố 6, thị trấn Plei Kần thì bị tổ công tác Công an huyện Ngọc Hồi kiểm tra, phát hiện bị cáo H đang cất giấu trong túi quần phía trước bên phải của mình 01 gói nilon bên trong chứa ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số: 100/KLGĐ-PC09 ngày 28-5-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kon Tum xác định: Mẫu chất rắn dạng cục bột màu trắng thu giữ từ Bùi Văn H là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,698 gam.

Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt Bùi Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày thi hành hình phạt. Bùi Văn H được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21-5-2020 đến ngày 09-6-2020 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 08 tháng 10 năm 2020, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, không có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Trong vụ án này bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt đến 5 năm là tội phạm nghiêm trọng. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo không được hưởng án treo.

Với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng 0,698 gam là ma túy loại Heroine. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 18 tháng tù là có phần hơi nặng. Hơn nữa, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là không đúng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp 01 giấy xác nhận về việc người có thành tích trong việc bắt tội phạm, bị cáo đã tích cực hợp tác cung cấp thông tin giúp Công an xã Đăk Kan bắt được một số đối tượng đang có hành vi vận chuyển lâm sản trái phép tại địa bàn. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” và “đầu thú” quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum về mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H, giảm từ 05 đến 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21-5-2020, Hồ Thế Tâm điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển kiểm soát 81A – 071.20 chở bị cáo H đi đến đường Trần Hưng Đạo thuộc tổ dân phố 6, thị trấn Plei Kần thì bị tổ công tác Công an huyện Ngọc Hồi kiểm tra, phát hiện bị cáo H đang cất giấu trong túi quần phía trước bên phải của mình 01 gói nilon bên trong chứa Herôin với khối lượng 0,698 gam.

Với hành vi trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xét xử bị cáo Bùi Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H thấy rằng:

Xét về nhân thân: Ngày 12-11-2014 bị cáo H bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo mới chấp hành xong bản án vào ngày 18-02-2018 thì đến ngày 21-5-2020 bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích, tuy nhiên vẫn xem xét bị cáo là người có nhân thân xấu. Do đó, không chấp nhận nội dung xin được hưởng án treo này của bị cáo.

Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng 0,698 gam. Cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “bố bị cáo là người có công với nước, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba” và “bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận là lao động chính trong gia đình” quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Qua xem xét, Hội đồng xét xử thấy rằng, gia đình bị cáo còn có vợ nên bị cáo không được xem là lao động chính trong gia đình nên tình tiết giảm nhẹ này cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là chưa phù hợp. Tuy nhiên, với những tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “bố bị cáo là người có công với nước, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba” quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 18 tháng tù là có phần nghiêm khắc.

Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm vào ngày 08/10/2020 bị cáo có giao nộp 01 giấy xác nhận về việc người có thành tích trong việc bắt tội phạm, bị cáo đã tích cực hợp tác cung cấp thông tin giúp Công an xã Đăk Kan bắt được một số đối tượng đang có hành vi vận chuyển lâm sản trái phép tại địa bàn. Do đó, cấp phúc thẩm cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo tốt trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H về xin giảm nhẹ hình phạt. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum về mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H.

Về án phí: Đơn kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 47/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum về mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H.

Xử phạt Bùi Văn H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, thời gian tạm giam là từ ngày 21-5-2020 đến ngày 09-6-2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Về các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ