vanban.org

Bản án 17/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Nh là được ly hôn với anh Nguyễn Đình M.

Về nuôi con chung: Chị Nh và anh M có 01 con chung là Nguyễn Đình Thái S – sinh ngày 02/02/2013. Giao cho anh Nguyễn Đình M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Đình Thái S. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nh vì anh M không yêu cầu. Chị Lê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "án Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Nh là được ly hôn với anh Nguyễn Đình M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HNGĐ – ST
Ngày 28 tháng 7 năm 2020
V/v “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣơng Anh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hữu Nhƣ Ngọc và ông Hồ Trung Huyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 233/2019/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Nh - sinh năm 1993.

Nơi ĐKNKTT: xóm M, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An.

Chổ ở hiện nay: xóm N, xã Thịnh L, huyện Lộc H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình M – sinh năm 1990.

Nơi ĐKNKTT: xóm M, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An.

Nơi tạm trú: Ấp B, xã An V, huyện Trảng B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị Nh trình bày: Chị Lê Thị Nh và anh Nguyễn Đình M có đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 12 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Thịnh L, huyện Lộc H, tỉnh Hà Tĩnh, hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống với nhau tại xóm M, xã Nghĩa Th, huyện Nghĩa Đ. Trong quá trình chung sống với nhau, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, anh M hay nhậu nhẹt, rượu chè bê tha, không quan tâm đến vợ con, nên dẫn đến vợ chồng cãi vả nhau, hai bên không thể hòa giải với nhau được. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không có kết quả tốt đẹp hơn. Do cuộc sống hôn nhân quá căng thẳng, mâu thuẫn đến đỉnh điểm nên hai vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, không ai quan tâm, hỏi han gì đến nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nh yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị Lê Thị Nh và anh Nguyễn Đình M có 01 con chung Nguyễn Đình Thái S – sinh ngày 02/02/2013. Nếu ly hôn nguyện vọng của chị Nh là để con chung lại cho anh M nuôi vì cháu ở với anh M từ khi hai vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay.

Về tài sản chung: Chị Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Đình M vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai trình bày: Do trong quá trình chung sống với nhau, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài và không thể hàn gắn lại với nhau được. Nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống nên không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng không tin tưởng nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo để vợ chồng quay lại sống đoàn tụ với nhau nhưng không có kết quả và hai bên đã sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, không ai quan tâm, hỏi han gì đến nhau. Hiện nay anh M không còn tình cảm với chị Nh nữa nên anh M đồng ý ly hôn với chị Nh. Về nuôi con chung, vợ chồng có một con chung là Nguyễn Đình Thái S – sinh ngày 02/02/2013. Anh M có nguyện vọng nuôi cháu S vì cháu Sơn ở với anh M từ khi hai vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay và không yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về trình tự tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, ban hành các quyết định đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã làm đúng trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Nh là được ly hôn với anh Nguyễn Đình M. Về con cái: Chị Nh và anh M có 01 con chung là Nguyễn Đình Thái S – sinh ngày 02/02/2013. Hiện nay cháu S đang ở với anh M nên đề nghị giao con chung cho anh M được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nh vì anh M không yêu cầu. Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1. Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của chị Lê Thị Nh.

2. Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Đình M đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ nhưng do phải đi làm ăn ở xa nên anh M có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M là phù hợp với quy định tại điều 227 và 228 Bộ luật tố tung dân sự.

3. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Nh và anh Nguyễn Đình M có mối quan hệ hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng, tin tưởng nhau, nên dẫn đến cãi vả nhau, hai bên không thể hòa giải với nhau được. Mặc dù đã được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải nhưng vẫn không có kết quả và vợ chồng đã sống ly thân thừ năm 2014 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Xét thấy tình cảm của hai bên không còn nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Nh là được ly hôn với anh Nguyễn Đình M.

4. Về nuôi con chung: Chị Nh và anh M có 01 con chung là Nguyễn Đình Thái S – sinh ngày 02/02/2013. Hiện nay cháu S đang ở với anh M. Nguyện vọng của chị Nh và anh M là sau khi ly hôn thì giao cho anh M được nuôi con chung. Mặt khác, cháu S cũng có nguyện vọng ở với anh M. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, tránh làm sáo trộn cuộc sống và sinh hoạt của cháu; Căn cứ vào quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình nghĩ nên giao con chung Nguyễn Đình Thái S cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nh.

5. Về chia tài sản, nợ chung: Chị Nh và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

6. Về án phí: Chị Lê Thị Nh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227 và điều 228– Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, 71, 81, 82, 83 và 84 - Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Nh là được ly hôn với anh Nguyễn Đình M.

2. Về nuôi con chung: Chị Nh và anh M có 01 con chung là Nguyễn Đình Thái S – sinh ngày 02/02/2013. Giao cho anh Nguyễn Đình M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Đình Thái S. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nh vì anh M không yêu cầu. Chị Lê Thị Nh có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người nuôi con hoặc yêu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về chia tài sản, nợ chung: Chị Nh và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Nh đã nộp đủ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0003322 ngày 13 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ