vanban.org

Bản án 17/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L đối với ông Trần Ngọc T về việc “xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”; Bà Đặng Thị Ngọc L được ly hôn với ông Trần Ngọc T.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Đặng Thị Ngọc L, bà L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng có 02 con chung tên là Trần Đặng Trường An, sinh ngày 07/5/2014 và Trần Thị Như ý, sinh ngày 28/11/2009, ông Trần Ngọc T không phải cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L đối với ông Trần Ngọc T về việc “xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”; Bà Đặng Thị Ngọc L được ly hôn với ông Trần Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ KT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LA
Bản án số: 17/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2020
“V/v tranh chấp ly hôn
Và quyền nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KT

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc Anh

2. Bà Nguyễn Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã KT.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã KT, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 62/2020/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020 về việc “tranh chấp ly hôn và quyền nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1990;

Bị đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Ấp Bắc Chan 1, xã Tuyên T, thị xã KT, tỉnh LA.

(Bà L và ông T vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L: Bà L yêu cầu ly hôn với ông Trần Ngọc T; Về con chung, có 02 con chung tên là Trần Đặng Trường An, sinh ngày 07/5/2014 và Trần Thị Như ý, sinh ngày 28/11/2009, hiện nay hai con đang sống chung với bà L, khi ly hôn bà xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung bà L không yêu cầu giải quyết.

Yêu cầu, đề nghị của ông Trần Ngọc T: Ông T xin vắng mặt không tham gia hòa giải và cũng không tham gia phiên tòa nên không có ý kiến.

Các tài liệu chứng cứ của vụ án:

Chứng cứ do bà L cung cấp: Giấy CMND, sổ hộ khẩu của bà L (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh (bản sao); Đơn xác nhận nơi cư trú của ông T; Đơn xin xét xử vắng măt của bà Hương.

Chứng cứ do ông Trần Ngọc T cung cấp: Đơn xin xét xử vắng măt của ông T.

Các tình tiết của vụ án:

Bà L trình bày tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 19/06/2020 và ngày 02/7/2020 như sau: Bà và ông T có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND xã Tuyên T, huyên Mộc Hóa, tỉnh LA. Sau khi chung sống thì thời gian đầu hạnh phúc, nhưng thời gian trở lại đây thì thường xuyên mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài. Nay bà L xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên xin ly hôn.

Về con chung: Bà L xác định có 02 con chung tên là Trần Đặng Trường An, sinh ngày 07/5/2014 và Trần Thị Như ý, sinh ngày 28/11/2009, hiện nay hai con đang sống chung với bà L, khi ly hôn bà xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa bà L có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên công khai, tiếp cận chứng cứ cũng như tại phiên tòa ông T có đơn xin vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Đặng Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc T có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại UBND xã Tuyên T, huyện Mộc Hóa, tỉnh LA nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn là quan hệ pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã KT theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vắng mặt: Bà Đặng Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc T: Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt bà L và ông T.

Về hôn nhân giữa bà Đặng Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc T: Bà L xác định về mâu thuẫn giữa bà và ông T là trầm trọng và không thể hàn gắn. Ông T xin vắng mặt nhưng không có ý kiến phản bác lời trình bày của bà L thể hiện ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ vào lời trình bày của bà L thì hai bên không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và không sống chung với nhau. Điều này thể hiện tình nghĩa vợ chồng giữa bà L và ông T không còn, việc chung sống giữa hai người vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của L đối với ông T là đúng quy định của pháp luật.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Đặng Trường An, sinh ngày 07/5/2014 và Trần Thị Như ý, sinh ngày 28/11/2009, hiện nay hai con đang sống chung với bà L, khi ly hôn bà xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Căn cứ Điều 69, Điều 70, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì điều kiện hiện tại của bà L là đảm bảo giúp cho con chung phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội nên yêu cầu của bà L có cơ sở chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không có yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung; Ông T vắng mặt không có yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bà Đặng Thị Ngọc L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Áp dụng các Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L đối với ông Trần Ngọc T về việc “xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”; Bà Đặng Thị Ngọc L được ly hôn với ông Trần Ngọc T.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Đặng Thị Ngọc L, bà L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng có 02 con chung tên là Trần Đặng Trường An, sinh ngày 07/5/2014 và Trần Thị Như ý, sinh ngày 28/11/2009, ông Trần Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83,84, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung trong vụ án này.

4. Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Ngọc L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước, chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai số 0009309 ngày 02 tháng 7 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã KT sang thi hành án phí.

5. Án xử công khai sơ thẩm: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Khanh

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THỊ XÃ KT

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LA

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 45 phút, ngày 28 tháng 7 năm 2020

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã KT

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Vũ Khanh

Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Ngọc Anh và bà Nguyễn Thị Hiền

Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 62/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020 về việc “Ly hôn” giữa:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1990;

Bị đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Ấp Bắc Chan 1, xã Tuyên T, thị xã KT, tỉnh LA.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Đặng Thị Ngọc L và ông Trần Ngọc T về việc “xin ly hôn”; bà Đặng Thị Ngọc L được ly hôn với ông Trần Ngọc T.

Kết quả biểu quyết: 3/3

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Đặng Thị Ngọc L, bà L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng có 02 con chung tên là Trần Đặng Trường An, sinh ngày 07/5/2014 và Trần Thị Như ý, sinh ngày 28/11/2009, ông Trần Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83,84 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Kết quả biểu quyết: 3/3

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung trong vụ án này.

Kết quả biểu quyết: 3/3

4. Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Ngọc L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước, chuyển số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai số 0009309 ngày 02 tháng 7 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã KT sang thi hành án phí.Kết quả biểu quyết: 3/3

5. Án xử công khai sơ thẩm: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.

Kết quả biểu quyết: 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 50 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ