vanban.org

Bản án 17/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh L đối với bà Lê Thị B Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Minh L yêu cầu ly hôn Lê Thị B"
  • Tòa quyết gì? 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2020
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Tân.

Ông Lữ Minh Luân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Đức Huệ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia

phiên tòa: Bà Trần Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm

2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-

HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh L - Sinh năm 1982 - Địa chỉ: ấp 5, xã M,

huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09-7-2020).

Bị đơn: Bà Lê Thị B - Sinh năm 1994 - Địa chỉ: ấp 5, xã M, huyện Đ, tỉnh L.

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08-7-2020)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22-4-2020, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn là

ông Nguyễn Minh L trình bày: ông L và bà Lê Thị B cưới nhau năm 2011, đăng ký

kết hôn ngày 22-6-2012 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Tân Phong, huyện Tân

Biên, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân do bà B đi làm công nhân và có quan hệ tình cảm với người đàn ông

khác. Ông và bà B đã sống ly thân từ đầu năm 2018 đến nay.

Về hôn nhân: Ông L yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị B.

Về con chung: ông L và bà B có 01 con chung tên Nguyễn Lê Gia T, sinh

ngày 20-11-2012. Con chung do ông L trực tiếp nuôi dưỡng từ năm 2018 đến nay. Ông L yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không có tài sản chung, không có nợ chung

nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ.

Tại bản tự khai ngày 07-7-2020, bị đơn là bà Lê Thị B khai thống nhất với

ông L về điều kiện kết hôn, thời gian phát sinh mâu thuẫn, thời gian sống ly thân, con chung, tình trạng nuôi dưỡng con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung. Bà B khai nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau nên thường xuyên gây cãi dẫn đến mất hạnh phúc gia đình. Bà B đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông L. Bà B đồng ý để ông L trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà B không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ phát biểu ý kiến: Về việc

tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình thụ lý, thời gian chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: mâu thuẫn giữa ông L và bà B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông L, giao con chung cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Minh L khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Lê Thị

B. Bà B cư trú tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thủ tục tố tụng: bà B đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ

lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà B không có mặt để tham gia hòa giải vì vậy đây là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông L và bà B có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Xét yêu cầu ly hôn của ông L: ông Nguyễn Minh L và bà Lê Thị B xác

lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 22-6-2012 tại UBND xã Tân Phong,

huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà B là hôn

nhân hợp pháp theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình. Ông L và bà B trình

bày thống nhất với nhau về thời gian sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Hiện ông L

vẫn yêu cầu ly hôn, bà B đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông L. Xét mâu thuẫn

giữa ông L và bà B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu

ly hôn của ông L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của ông L: con chung do ông L trực

tiếp nuôi dưỡng từ năm 2018 đến nay. Ông L và bà B cùng yêu cầu ông L trực tiếp

nuôi dưỡng con chung là phù hợp với nguyện vọng của con chung. Vì vậy giao con

chung cho ông L trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông L không yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con

chung là sự tự định đoạt của ông L, Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Ông L và bà B cho rằng không có tài sản

chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề

cập giải quyết về tài sản và nợ trong vụ án này.

. Với những nhận định trên, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L và giao con chung cho ông L trực tiếp nuôi

dưỡng là có cơ sở chấp nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên

phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án)

nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông L đã

nộp. Bà B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản

4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh L đối với bà Lê Thị B

về việc “ly hôn”;

Về hôn nhân: ông Nguyễn Minh L được ly hôn với bà Lê Thị B.

Về con chung: ông Nguyễn Minh L được quyền trực tiếp nuôi con chung tên

Nguyễn Lê Gia T, sinh ngày 20-11-2012. Hiện con chung đang do ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Khi cần thiết, vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, ông L và bà B được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh L phải chịu 300.000 đồng (ba

trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông L đã nộp theo biên lai thu số 0005059 ngày 06-5-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ