vanban.org

Bản án 17/2020/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 26/02/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thanh N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thanh N đối với ông Phan Thanh T. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đòi ông T thanh toán số tiền 4.328.373 đồng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đối với ông T về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Phan Tha N - Phan Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thanh N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2020/DS-PT
Ngày 26 - 02 - 2020
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Trương Thanh Dũng

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Lệ Kiều

Ông Nguyễn Trung Trực

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Chúc Ly - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2019/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2019 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2018/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thanh N, sinh năm 1960. Địa chỉ: Ấp L, xã L1, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Bị đơn: Ông Phan Thanh T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp L, xã L1, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phan Thanh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2019 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Thanh N trình bày: Vào khoảng 08 giờ sáng ngày 06/10/2018, ông Phan Thanh T đào đất cắm trụ ranh (trụ đá) giáp với phần đất của bà (do ông T nhận chuyển nhượng đất của ông T1) nên bà không đồng ý và ngăn cản không cho ông T cắm trụ đá nhưng ông T không đồng ý dừng lại nên bà nhảy vào chỗ ông T đào giật lấy cây dá trên tay ông T, hai bên giằng co qua lại, cây dá trên tay ông T đập vào mặt bà làm bầm mặt, vỡ xương má nên ông T dừng lại. Sau đó, hai bên tiếp tục cự cải nên bà N hốt đá 1-2 dưới lộ nhựa định ném về phía ông T nhưng bị ông T dùng hai tay nắm lấy hai tay của bà đánh nhiều cái vào mặt của bà làm bà bị bầm hết cả mặt và trầy xước da chảy máu ở hai tay. Khi đó được ông T2 là Trưởng ấp B can ngăn và kêu bà đi Bệnh viện điều trị thương tích, bà đến Bệnh viện Quân Dân y Bạc Liêu khám và bác sỹ chuẩn đoán bà bị vỡ xương gò má nên chuyển bà đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bạc Liêu điều trị thương tích từ ngày 06/10/2018 đến ngày 12/10/2018 thì xuất viện. Nay bà yêu cầu ông T bồi thường tiền chi phí điều trị, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh, tiền ăn uống cho bà và người nuôi bệnh (là con gái bà tên Phan Thanh H) với tổng số tiền là 14.257.000 đồng. Ngoài ra, bà N không còn yêu cầu nào khác.

- Bị đơn ông Phan Thanh T trình bày: Ông T thừa nhận có xảy ra sự việc như bà N trình bày nhưng ông không có đánh bà N gây thương tích nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N đòi ông bồi thường số tiền 14.257.000 đồng.

Từ những nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bàn án số 01/2020/QĐ-SCBSBA ngày 07/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu quyết định:

Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 584, 585 và 590 của Bộ luật Dân sự; Mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 1, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thanh N đối với ông Phan Thanh T. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đòi ông T thanh toán số tiền 4.328.373 đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đối với ông T về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Buộc ông T bồi thường cho bà N số tiền 3.178.950 đồng (Ba triệu một trăm bảy mươi tám nghìn chín trăm năm mươi đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về áp dụng lãi suất, áp dụng Luật Thi hành án dân sự trong giai đoạn thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/11/2019, nguyên đơn bà Phan Thanh N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phan Thanh N vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phan Thanh N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Đơn kháng cáo của bị đơn bà Phan Thanh N nộp trong hạn luật định, nên được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của của bà Phan Thanh N về việc yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét buộc ông Phan Thanh T bồi thường cho bà số tiền 14.257.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn bà Phan Thanh N, bị đơn ông Phan Thanh T thống nhất trình bày: Khoảng 08 giờ sáng ngày 06/10/2018, ông Phan Thanh T đào đất cắm trụ ranh giáp với phần đất của bà Phan Thanh N nhưng bà N không đồng ý cho ông T cắm nên hai bên xảy ra cự cải, giằng co, bà N dùng đất, đá ném về phía ông T và ông T thừa nhận có dùng hai tay nắm lấy hai cổ tay của bà N giật, lắc nhiều cái với mục đích làm rơi đất đá trên tay của bà N làm cẳng tay gần cổ tay trái bà N bị trầy xước chảy máu và đất đá văng trúng mặt bà N. Bà N bị thương tích nên vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Bạc Liêu điều trị thương tích đến ngày 12/10/2018 thì xuất viện. Tại Giấy chứng nhận thương tích số 233/CN ngày 16/10/2018 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bạc Liêu xác định bà N bị thương vào viện ngày 06/10/2018 và ra viện ngày 12/10/2018, với chuẩn đoán lúc vào và ra viện: Sưng nề thái dương – đỉnh đầu (T) d = 03 x 03cm; sưng bầm cổ tay (P) d = 03 x 06cm; sưng bầm cổ tay (T) d = 02 x 02cm; sưng bầm mi mắt dưới (T) d = 03 x 03cm; sưng bầm mi mắt dưới (P) d = 01 x 02cm; xây xát da gò má (T) d = 01 x 0,1cm; xây xát da cổ tay (T) d = 01 x 01cm. CT.Scanner sọ não – Mặt: Bình thường. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 84/TgT của Trung tâm pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận: Một sẹo nông ở 1/3 dưới ngoài cẳng tay trái (gần cổ tay trái), tỷ lệ 01% cơ chế hình thành vết thương là do vật tầy tác động từ trước ra sau. Bà N và ông T đều xác định chỉ có bà N và ông T tiếp xúc với nhau, ngoài ra không có người nào khác. Theo Thông báo số 34/TB-CQĐT-ĐTTH ngày 16/6/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Bạc Liêu thể hiện: Ông Phan Thanh T có hành vi gây thượng tích cho bà N nhưng tỷ lệ thương tật là 01% nên không cấu thành tội phạm. Như vậy, có căn cứ xác định ông T đã gây thương tích cho bà N. Do đó, án sơ thẩm buộc ông T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bà N bị xâm phạm là có căn cứ.

Căn cứ vào Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số điều của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó chi phí hợp lý cho việc điều trị của bà N được chấp nhận bao gồm:

Chi phí thực tế điều trị bệnh gồm: Tiền chụp Xquang: 330.000 đồng; Tiền CT, Xquang: 654.000 đồng; Chi phí khám bệnh: 35.000 đồng; Tiền thuốc: 350.400 đồng; Tiền chụp Xqang: 480.000 đồng; Tiền chi phí điều trị: 2.288.500 đồng; Tiền y chứng: 120.000 đồng. Tiền mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh: Tính theo mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương là 100.000đồng/người/ngày, bà N nằm viện 07 ngày x 2 người x 100.000 đồng = 1.400.000 đồng. Tiền ăn của người bệnh: 07 ngày x 100.000 đồng/ngày = 700.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bà N điều trị, mất thu nhập, tiền ăn là: 6.357.900 đồng.

Về tiền tổn thất tinh thần bà N không có yêu cầu bồi thường, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét thấy, thương tích của bà N là do ông T gây ra. Tuy nhiên, nguyên nhân xảy ra có một phần lỗi của bà N, do bà N dùng đất, đá ném về phía ông T mới dẫn đến việc ông T gây thương tích cho bà N. Do đó, bà N cũng phải tự chịu một phần chi phí điều trị, án sơ thẩm buộc ông T chịu 50% chi phí điều trị cho bà N là phù hợp.

Như vậy số tiền ông T phải bồi thường cho bà Nga: 6.357.900 đồng: 2 = 3.178.950 đồng.

Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thanh N, có căn cứ chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

Án phí dân sự phúc thẩm bà Phan Thanh N không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, khoản 2 Điều 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 584, 585 và 590 của Bộ luật Dân sự; Mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 1, khoản 4 Điều 26; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thanh N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thanh N đối với ông Phan Thanh T. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đòi ông T thanh toán số tiền 4.328.373 đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N đối với ông T về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Buộc ông T bồi thường cho bà N số tiền 3.178.950 đồng (Ba triệu một trăm bảy mươi tám nghìn chín trăm năm mươi đồng).

3. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải chịu 300.000 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thanh N không phải chịu.

4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ