- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH C - Trần Thị Tr"
- Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt bà Trần Thị Tr.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số 17/2019/TCDS-ST Ngày: 07 - 10 – 2019 “V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Lợi, bà Đậu Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà: Ông Đàm Xuân Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2019/TLST-TCDS, ngày 03 tháng 5 năm 2019 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng C Việt Nam
Địa chỉ: Tòa nhà CC5, khu bán đảo Linh Đ, phường Hoàng L, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: ông Dương Quyết Th – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hồng Ph – Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Quảng Trạch (theo Quyết định ủy quyền số 1792/QĐ-NHCS ngày 09/5/2015)
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: bà Trần Thị Thu Ng – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng C huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. (Theo văn bản ủy quyền số 63/QĐ-NHCS ngày 18/02/2019); địa chỉ: xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
2. Bị đơn: bà Trần Thị Tr
Trú tại: thôn Tân Thị, xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 28/9/2016 giữa Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện Quảng Trạch và bà Trần Thị Tr đã giao kết hai Hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- Hợp đồng tín dụng số 6600000708584660, Ngân hàng cho bà Tr vay số tiền 12.000.000 đồng, mục đích làm bể nước và xây nhà vệ sinh, lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 130%, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, số tiền trả nợ 1.334.000 đồng/lần, lãi trả vào ngày 17 hàng tháng. Thời hạn cho vay 60 tháng, hạn trả cuối cùng vào ngày 17/9/2021.
- Hợp đồng tín dụng số 6600000708576083 Ngân hàng cho bà Tr vay số tiền 48.000.000 đồng, mục đích chăn nuôi bò sinh sản, lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 130%, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ 16.000.000 đồng/lần, lãi trả vào ngày 17 hàng tháng. Thời hạn cho vay 36 tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 17/9/2019.
Quá trình thực hiện Hợp đồng bà Trần Thị Tr đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền lãi cho Ngân hàng; riêng đối với Hợp đồng tín dụng số 6600000708576083 tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà Tr đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi và tiền gốc đến hạn. Phía ngân hàng đã nhiều lần thông báo, làm việc yêu cầu bà Trạch thanh toán tiền lãi đến hạn nhưng bà Trạch vẫn không thực hiện.
Hiện tại, bà Trần Thị Trạch còn nợ tại Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện Quảng Trạch theo hai hợp đồng tín dụng là 73.409.586 đồng, trong đó: nợ gốc: 60.000.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (07/10/2019) là 13.409.589 đồng.
Để thu hồi vốn cho Nhà nước, Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị Tr phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ nói trên tính đến ngày xét xử sơ thẩm (07/10/2019) và yêu cầu bà Tr phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 08/10/2019 cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản tiền nợ.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập hòa giải nhiều lần cho bà Trạch, nhưng bà Tr vẫn không có mặt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng; Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 94, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Trần Thị Tr phải trả nợ cho Ngân hàng C Việt Nam số tiền gốc và lãi tính đến ngày 07/10/2019 là 73.409.586 đồng, theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 08/10/2019 cho đến khi thanh toán xong tiền nợ; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: bị đơn bà Trần Thị Tr có Hộ khẩu thường trú tại xã Cảnh H, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch.
Giữa Ngân hàng C huyện Quảng Trạch với bà Trần Thị Tr đã ký kết hai Hợp đồng tín dụng cho vay với mục đích chăn nuôi bò sinh sản và làm bể nước, nhà vệ sinh. Quá trình vay vốn bà Tr không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi hàng tháng cho Ngân hàng, đã vi phạm hợp đồng, nên Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án đòi số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa cho bà Trần Thị Tr đến lần thứ hai, nhưng bà Trạnh vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bà Trần Thị Tr.
Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:
Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện Quảng Trạch với bà Trần Thị Tr đã ký kết Hợp đồng tín dụng số số 6600000708584660, Ngân hàng cho bà Tr vay số tiền 12.000.000 đồng, mục đích làm bể nước và nhà vệ sinh, lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 130%, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, số tiền trả nợ 1.334.000 đồng/lần, lãi trả vào ngày 17 hàng tháng. Thời hạn cho vay 60 tháng, hạn trả cuối cùng vào ngày 17/9/2021 và Hợp đồng số 6600000708576083 để vay số tiền 48.000.000 đồng, mục đích chăn nuôi bò sinh sản, lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 130%, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ 16.000.000 đồng/lần, lãi trả vào ngày 17 hàng tháng. Thời hạn cho vay 36 tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 17/9/2019. Trên cơ sở Hợp đồng ký kết, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho bà Tr như thỏa thuận. Như vậy, các hợp đồng tín dụng giữa hai bên có nội dụng và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên có hiệu lực thi hành.
Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay bà Trần Thị Tr đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi hàng tháng đối với hợp đồng tín dụng số 6600000708584660; riêng đối với Hợp đồng tín dụng số 6600000708576083, đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm, bà Tr đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi và tiền nợ gốc đến hạn. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam, buộc bà Trần Thị Tr phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng và tổng số tiền lãi phát sinh tính đến ngày 07/10/2019 là 13.409.589 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (07/10/2019), bà Trần Thị Tr còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc đối với Hợp đồng tín dụng số 6600000708576083. Đối với Hợp đồng tín dụng số 6600000708584660, bà Tr phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng, nếu vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận thì phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Xét quan điểm, đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Xét xử vắng mặt bà Trần Thị Tr.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C Việt Nam đối với bị đơn bà Trần Thị Tr.
Buộc bà Trần Thị Tr phải trả cho Ngân hàng C Việt Nam số tiền theo hai hợp đồng tín dụng là 73.409.586 đồng, trong đó tiền nợ gốc: 60.000.000 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (07/10/2019) là 13.409.589 đồng. Cụ thể:
- Số nợ theo hợp đồng tín dụng số 6600000708576083 là: 58.727.667 đồng, trong đó: nợ gốc: 48.000.000 đồng, nợ lãi 10.727.667 đồng (lãi trong hạn: 10.656.653, lãi quá hạn 71.014 đồng);
- Số nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6600000708584660 là 14.681.919, trong đó: nợ gốc 12.000.000 đồng, nợ lãi 2.681.919 đồng.
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (07/10/2019), bà Trần Thị Tr còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc đối với Hợp đồng tín dụng số 6600000708576083. Đối với Hợp đồng tín dụng số 6600000708584660, bà Tr phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng, nếu vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận thì phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc”.
3. Về án phí: Buộc bà Trần Thị Tr phải chịu 3.670.497 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/10/2019) đối với người có mặt hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Quảng Trạch; - Chi cục THADS huyện Quảng Trạch; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Phạm Hữu Tình |