- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Y1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Y1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Bùi Văn Y1 01 năm (một năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 05 tháng 10 năm 2018).
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2019/HS-ST Ngày 29 - 01- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Bà Tô Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh- Thư ký tòa án nhân dân thành phố Thái bình, tỉnh Thái bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Bùi Văn Y1, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1984 tại Thái Bình.
Hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Số nhà 04, ngõ 261, đường L, tổ 6, phường K, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1957; có vợ là Nguyễn Thu H, sinh năm 1979 và có 01 con; tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Từ tháng 02 năm 2003 đến ngày 31 tháng 01 năm 2005 tham gia nghĩa vụ quân sự sau xuất ngũ về địa phương; bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 10 năm 2018 đến ngày 08 tháng 10 năm 2018 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình; bị cáo được trích xuất, có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Nguyễn Tiến V1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số nhà 06/05, Ngõ 159, đường N, Tổ 06, phường P, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
+ Anh Trần Văn T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn I, xã E, huyện T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05 tháng 10 năm 2018, Bùi Văn Y1 đi bộ từ nhà ra đường M thuộc Tổ 30, phường M, thành phố Thái Bình với mục đích mua ma túy là Hêrôin để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Bùi Văn Y1 gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ 200.000 đồng được 02 gói ma túy bên ngoài đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, Bùi Văn Y1 cầm 02 gói ma túy ở lòng bàn tay phải đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực đường M thuộc Tổ 28, phường M thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Tiến V1 và anh Trần Văn T1. Bùi Văn Y1 tự giác giao nộp từ lòng bàn tay phải 02 gói ma túy khai là Hêrôin mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mở 02 gói ma túy ra kiểm tra, bên ngoài đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều là tinh thể màu trắng dạng cục, sau đó niêm phong trong phong bì. Tổ công tác đã yêu cầu Bùi Văn Y1, mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường M, thành phố Thái Bình để kiểm tra. Qua kiểm tra thu tại túi quần bên trái của Bùi Văn Y1 số tiền 7.000 đồng (bảy nghìn đồng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng để điều tra làm rõ.
Bản kết luận giám định số: 368/KLGĐ-PC09 ngày 05/10/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Chất bột màu trắng dạng cục, trong phong bì niêm phong ghi: “Vật chứng thu giữ của Bùi Văn Y1 sinh năm 1984, ĐKHKTT tại: Thôn B, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 05/10/2018 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1528 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm hai mươi tám gam).”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Y1 không có ý kiến, khiếu nại gì về kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình nêu trên.
Bản cáo trạng số: 08/CT-VKSTP ngày 04 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Văn Y1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình thực hiện quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Bùi Văn Y1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Y1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Văn Y1 từ 12 đến 15 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu của bị cáo Bùi Văn Y1 0,1528 gam còn lại sau giám định là 0,1231 gam.
- Trả lại bị cáo Bùi Văn Y1 số tiền 7.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý số tiền này để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến và tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 05 tháng 10 năm 2018, tại khu vực đường M thuộc tổ 28, phường M, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Bùi Văn Y1 có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy loại Hêrôin có khối lượng là 0,1528 gam mục đích sử dụng cho bản thân, bị Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của bị cáo Y1 phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Tiến V1 và anh Trần Văn T1. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường M, thành phố Thái Bình lập hồi 07 giờ 10 phút ngày 05 tháng 10 năm 2018; biên bản niêm phong vật chứng tại Công an phường M, thành phố Thái Bình lập hồi 8 giờ 00 phút ngày 05 tháng 10 năm 2018; bản Kết luận giám định số: 368/KLGĐ-PC09 ngày 05 tháng 10 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:[...] c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]”. Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Văn Y1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đa xâm pha ̣̃
m quy đi ̣nh quản lý chất gây nghiê ̣n của Nhà nướ c. Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người , phá vỡ hạnh phúc gia đình, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưở ng đến trâ ̣t tự trị an . Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tương xứng với hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, nhưng do bị cáo Bùi Văn Y1 tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo Bùi Văn Y1 0,1528 gam (không phẩy một nghìn năm trăm hai mươi tám gam) ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định là 0,1231 gam (không phẩy một nghìn hai trăm ba mươi mốt gam) trong phong bì niêm phong số 368/KLGĐ là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.
Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo số tiền 7.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; các điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Y1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Bùi Văn Y1 01 năm (một năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 05 tháng 10 năm 2018).
2. Về xử lý vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu của bị cáo Bùi Văn Y1 0,1528 gam (không phẩy một nghìn năm trăm hai mươi tám gam) ma túy loại Hêrôin còn lại sau giám định là 0,1231 gam (không phẩy một nghìn hai trăm ba mươi mốt gam) trong phong bì niêm phong số 368/KLGĐ/PC-09
2.2. Trả lại bị cáo Bùi Văn Y1 số tiền 7.000 đồng nhưng tạm quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 05 tháng 01 năm 2019 và Biên lai thu tiền số 0001333 ngày 05 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình).
3. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Y1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/01/2019. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
Vũ Việt Hưng
- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
- Lưu hồ sơ vụ án; VP.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Việt Hưng
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |