vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 28/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 09 (chín) tháng tù. Th i hạn tù của bị cáo đư c tính t ngày bắt bị cáo đi ch p hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận không có yêu cầu bồi thư ng gì thêm nên không đặt v n đề xử lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bắt, giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HS-ST
Ngày: 28-03-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hải;

Ông Nguyễn Viết Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Xuân Long – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 03 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2019/TLST- HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2019/HSST-QĐ ngày 13-3-2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Quốc T; Sinh năm 1984; Hộ khẩu thư ng trú: T 19, p B, xã A, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học v n: 7/12; Cha: Trần Văn G; Mẹ: V Thị Sen T; Có 6 anh em, bị cáo là con th 2 trong gia đình; Có v đã ly hôn, có 01 ngư i con sinh năm 2008; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 27/6/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản", ch p hành xong ngày 25/5/2009.

C m đi kh i nơi cư trú để điều tra. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Tiến K, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm C, thị tr n B, huyện A, tỉnh Đồng Tháp.

Ngư i làm ch ng:

1. Huỳnh Thị Lệ H, sinh năm 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm C, thị tr n B, huyện A, tỉnh Đồng Tháp.

2. Trần Quốc T, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: t 19, p B, xã A, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

3. Nguyễn Thành T, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: t 7, p B, xã A, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

4. Nguyễn Thành T, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: t 7, p B, xã A, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

5. Trần Ngọc Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm B, phư ng A2, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Trần Quốc T không nghề nghiệp n định nên thuê Nhà số 06/2 Trần Quốc T, t C, khóm B, phư ng A, thành phố Cao Lãnh ở trọ để hoạt động cho vay tiền bên ngoài.

Nguyễn Tiến K, sinh năm 1997 làm nhân viên quán hải sản "L. C" thuộc phư ng A và có quen biết T. Đầu tháng 7/2018, biết T có cho vay tiền, do cần tiền để chuộc lại điện thoại đang cầm cố và tiêu xài cá nhân nên K tìm đến nhà của T đang thuê vay 2.000.000 đồng, lãi su t là 10.000đ/1.000.000đ/01 ngày, định kỳ 10 ngày đóng lãi, không quy định th i gian hoàn trả n gốc. Sau khi vay đư c tiền của T, gia đình K chuyển nhà về sinh sống tại khóm C, thị tr n B, huyện A, nên K nghỉ làm việc ở quán "L. C" một th i gian nhưng không báo cho T biết và không đóng lãi, n gốc. Nhiều lần tìm K không gặp, T dặn em ruột mình là Trần Quốc T nếu có gặp K thì điện thoại báo cho T biết để T đòi tiền K.

Vào lúc 00 gi 30 phút ngày 18-9-2018, Th đang ăn tối ở Ch Đêm trên đư ng Lê L i, thuộc t 10, khóm B2, phư ng A2, thành phố Cao Lãnh thì K cùng bạn làm chung là Trần Lê Duy P đến ăn tối gặp Th chào h i nhau, Th điện thoại báo cho T, biết Th điện thoại cho T đến nhưng K v n đ i để gặp T giải thích cho T biết vì sao không trả n và lãi. T đang ở nhà, l y áo qu n con dao tự chế lại đem theo và gọi Ta-xi Sen Hồng do anh Nguyễn Thành T n điều khiển đến chở T đi (con dao T để dưới sàn xe). Đến nơi, T để con dao trong xe rồi bước xuống th y K đang ngồi, T nắm tóc sau gáy của K định kéo đ ng lên nhưng vuột tay, Th chạy đến can ngăn.

T hét lớn "Sao n tiền mà b trốn", K giải thích thì T dùng hai tay nắm c áo K kéo đ ng dậy đánh một cái nhưng K né đư c xư t qua gáy, T bảo Mày lên xe về nhà nói chuyện”. Th y K bị T bắt đi, P điện thoại báo cho anh Trần Ngọc Đ (là chủ quán L. C) biết sự việc. Do anh Đ quen biết T nên kêu P đưa điện thoại nói chuyện với T, anh Đ bảo để K về sáng anh Đ sẽ trả tiền thay cho K nhưng T không đồng ý, mà nói "Bắt nó, để mẹ nó mang tiền đến trả". K bước lên xe ngồi ghế sau, T ngồi gần tài xế, xe chở cả hai đi. Trên đư ng đi, anh Đ nhiều lần gọi điện thoại nhưng T không nghe máy và tắt nguồn, K giải thích lý do không trả lãi và n đúng hạn thì T cầm con dao dơ lên đe dọa "Im đi nói n a tao chém chết mẹ, có kêu ông tr i cũng không c u đư c mày, kiếm ai đem tiền đến trả mới đư c về".

Khi xe d ng trước đầu h m, T cầm dao trên tay và bảo K đi vào nhà cùng T, K đi chậm và tiếp tục giải thích nên T dùng bảng dao đập vào vai phải K 01 cái và chửi thề. T mở cửa sắt Đài Loan bảo K vào nhà rồi kéo cửa lại và h i Sao mư n tiền rồi b trốn”, K giải thích là v n đi làm bình thư ng chưa có tiền trả, không trốn. Lúc này, Th về tới nên T mở cửa hé ra cho Th vào nhà, T dùng tay đ m vào mũi K một cái chảy máu, Th can ngăn rồi ra phía sau nhà bếp ngồi trên ghế sa-lon, một lúc sau b đi chơi. T nói Tao chỉ đánh 50 lực thôi, ch đánh mày dơ tay", đồng th i đe dọa lại đây cho đến khi có ngư i mang tiền đến trả, không thì tao giết mày” rồi kêu K ra sau nhà bếp ngủ, T kéo cửa lại vào phòng ngủ của mình. Đến khoảng 03 gi , T th c dậy đi vệ sinh th y K v n chưa ngủ, T bảo Mày ngủ đi th c canh tao hay gì Có ai mang tiền đến trả tao cho về”. Đến khoảng 09 gi sáng th y K còn đang ngủ, T kêu dậy để điện thoại cho ai đem tiền đến trả, nhưng điện thoại của K hết pin thì T l y pin cũ cho K thay vào cũng dùng không đư c và K không nhớ số điện thoại của ngư i thân nên không liên lạc đư c với ai.

Sau khi không liên lạc đư c với T, anh Đồng chạy xe đến nhà T ở xã A tìm nhưng không gặp. Đến sáng, anh Đ điện thoại cho mẹ của K là bà Huỳnh Thị Lệ H biết và cho bà H số điện thoại của T. Đến khoảng 11 gi 30 phút, bà H đến Công an Phư ng 2 trình báo sự việc, sau đó tự điện thoại cho T để thương lư ng, T yêu cầu mang tiền đến nhà của T để trả n và đón K về. Khoảng 13 gi cùng ngày, bà H đến nhà của T th a thuận xin trả tiền gốc không trả lãi, T đồng ý nên bà H đưa 2.000.000 đồng, T nhận tiền rồi đốt b biên nhận n , đồng th i cho bà H đưa K về.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, ngày 19-9-2018, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trư ng tại nhà T thuê ở xác định: Có cửa rào phía trước b ng sắt, loại cửa lùa, nhà có 01 cửa ra vào duy nh t, loại cửa kéo Đài Loan. Ghi nhận, thu gi trong phòng ngủ gồm: 01 con dao tự chế b ng kim loại dài 62cm có bao da bên ngoài màu đen dài 43,5cm, cán tròn dài 19cm bao b ng cao su màu đen, lư i dao màu trắng rộng 5cm, dài 43cm mũi nhọn, bề lư i sắc bén, bề sóng hình răng cưa; 04 vật b ng nhựa màu đen (loại súng phóng điện); 04 cuốn s ghi chép, biên nhận việc cho vay tiền.

Ngày 19-9/-018, Cơ quan điều tra xem xét d u vết trên thân thể Nguyễn Tiến K, không phát hiện d u vết t n thương trên cơ thể.

Ngày 20/01/2019, Cơ quan điều tra đã trao trả 04 cuốn s ghi chép, biên nhận việc cho vay tiền cho T.

Quá trình điều tra, K không yêu cầu bồi thư ng thiệt hại do s c kh e và tinh thần bị xâm phạm, đồng th i làm đơn bãi nại cho T.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên phù h p với l i khai ngư i bị hại, l i khai nh ng ngư i làm ch ng, biên bản, sơ đồ, bản ảnh, khám nghiệm hiện trư ng và vật ch ng thu gi .

Tại cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 29-01-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội Bắt gi ngư i trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh gi nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T với m c án t 01 năm đến 01 năm tù 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật ch ng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như phần quyết định của bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa bị cáo th a nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính h p pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện phù h p pháp luật.

Nh ng ch ng c xác định có tội, c u thành tội phạm và điều luật áp dụng:

Đây là vụ án bắt, gi ngư i trái pháp luật do Trần Quốc T thực hiện. Do Nguyễn Tiến K vay tiền của T nhưng chưa trả n gốc và lãi, nên vào khoảng 00 gi 30 phút ngày 18/9/2018 tại khu vực Ch Đêm trên đư ng Lê L i, thuộc t 10, khóm B2, phư ng A2, thành phố Cao Lãnh, T dùng s c mạnh nắm c áo và đánh bắt buộc K lên xe Ta-xi cùng về nhà T đang thuê ở tại số 06/2 Trần Quốc T, t 36, khóm B2, phư ng A2. Trên đư ng đi, T dùng dao tự chế đe dọa chém K, đến nơi T cầm con dao trên tay ép buộc K phải đi vào bên trong nhà, sau đó đánh và đe dọa gi K ở lại nhà của mình (t khoảng 01 gi ) cho đến (khoảng 13 gi 30 phút ngày 18/09/2018) khi mẹ ruột K mang tiền đến trả mới thả K ra về.

L i khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù h p với ch ng c thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo đủ tu i chịu trách nhiệm hình sự và biết r hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng v n thực hiện ch ng t việc phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội Bắt ngư i trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự.

Tại kho n 1 Đi u 1 Bộ luật H nh s quy đ nh:

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy đ nh tại Đi u 1 3 và Đi u 3 của Bộ luật này, th b phạt c i tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền tự do thân thể công dân một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng x u đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng cho bị cáo một m c hình phạt tương x ng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra kh i đ i sống xã hội một th i gian nh t định để bị cáo có th i gian học tập, cải tạo, trở thành ngư i tốt có ích cho gia đình và xã hội sau này. Đồng th i, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trư ng h p ít nghiêm trọng, đư c bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đang là ngư i trực tiếp chu c p nuôi dư ng con còn nh và đang điều trị bệnh cao huyết áp và ruột kích thích, đư c quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về đề nghị của Viện kiểm sát và nh ng ngư i tham gia tố tụng khác:

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, l i luận tội cùa Kiểm sát viên tam gia phiên tòa cho r ng bị cáo phạm tội Bắt gi ngư i trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đả truy tố là hoàn toàn có căn c nên ch p nhận. Bị cáo th a nhận l i luận tội của Kiểm sát viên là đúng ngư i, đúng tội, đúng với tính ch t, m c độ và hành vi của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, m c hình phạt, xử lý vật ch ng, trách nhiệm dân sự và các v n đề khác phù h p với quy định của pháp luật và các tình tiết vụ án là phù h p nên ch p nhận. Tuy nhiên, bị cáo đang là ngư i trực tiếp chu c p nuôi dư ng con còn nh và đang điều trị bệnh cao huyết áp và ruột kích thích nên cũng cần giảm nhẹ hơn hình phạt cho bị cáo.

Các v n đề khác:

- Đối với hoạt động của T cho vay tiền lãi su t cao, chưa đủ yếu tố c u thành tội phạm, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, là có căn c .

Đối với Trần Quốc Th, chỉ điện thoại báo cho T biết nơi K đang ở để T đến đòi n , ch không bàn bạc trước và không giúp s c cho T bắt, gi K nên Cơ quan điều tra không xử lý, là có căn c .

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật ch ng:

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thư ng gì thêm nên không đặt v n đề xử lý.

- Về vật ch ng: Căn c Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao tự chế b ng kim loại dài 62cm có bao da bên ngoài màu đen dài 43,5cm, cán tròn dài 19cm bao b ng cao su màu đen, lư i dao màu trắng rộng 5cm, dài 43cm mũi nhọn, bề lư i sắc bén, bề sóng hình răng cưa; 04 vật b ng nhựa màu đen (loại súng phóng điện).

Về án phí: Bị cáo Trần Quốc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 09 (chín) tháng tù. Th i hạn tù của bị cáo đư c tính t ngày bắt bị cáo đi ch p hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận không có yêu cầu bồi thư ng gì thêm nên không đặt v n đề xử lý.

Về xử lý vật ch ng: Căn c Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao tự chế b ng kim loại dài 62cm có bao da bên ngoài màu đen dài 43,5cm, cán tròn dài 19cm bao b ng cao su màu đen, lư i dao màu trắng rộng 5cm, dài 43cm mũi nhọn, bề lư i sắc bén, bề sóng hình răng cưa; 04 vật b ng nhựa màu đen (loại súng phóng điện).

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội:

Bị cáo Trần Quốc T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, bị cáo đư c quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án hoặc ngày bản án đư c niêm yết bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ