vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 21/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HS-ST
Ngày 21-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Hữu Hà và ông Lý A Tùng

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Thể – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2019/TLST-HS ngày 29/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 07/11/2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Giàng A C - tên gọi khác: không; sinh năm 1981 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn S, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: làm ruộng, nương; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: không học; Con ông: Giàng Trừ T (đã chết) và bà Thào Thị D - sinh năm 1936; vợ là Mùa Thị S- sinh năm 1978 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền sự: Không. Tiền án: Không; Tạm giữ từ ngày 23/06/2019, tạm giam từ ngày 26/06/2019 đến nay. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: + Sùng A P - sinh năm 1977; Trú tại: Thôn S, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên. / Vắng mặt + Mùa Thị S - sinh năm 1978; Trú tại: Thôn S, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên. / có mặt

- Người phiên dịch: ông Giàng A D- SN 1985; trú tại: Tổ dân phố TC, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 21/6/2019, bị cáo một mình đi vào tổ dân phố Bản C, thị trấn T, huyện T, mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng và bán lẻ khi có người hỏi mua. Khi vào Bản C bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái (bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ), bị cáo đã hỏi và mua được của người này 01 gói ma túy loại Heroine với giá 2.000.000 đồng. Sau đó bị cáo mang về nhà chia gói Heroine mua được thành 03 gói nhỏ rồi cất giấu trong gian nhà bán hàng tạp hóa của gia đình, trong đó cất giấu 02 gói trong bao tải đựng hạt tiêu và giấu 01 gói trong thùng cát tông. Đến khoảng hơn 22 giờ ngày 22/6/2019, có Sùng A P đến nhà bị cáo để trả tiền đã nợ mua thịt bò trước đó, P đưa cho bị cáo 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng để trả số tiền nợ 80.000 đồng, sau khi bị cáo cầm tiền thì P nói: còn 20.000 đồng nếu có ma túy thì bán cho một ít, bị cáo đã đồng ý và lấy ra 01 cục nhỏ heroine đưa cho P; Sau khi mua được ma túy, P nhặt 01 mảnh nilon gói lại rồi đi ra ngoài về phía nhà vệ sinh của gia đình bị cáo mục đích để sử dụng ma túy, khi đó cán bộ công an đến phát hiện hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy trong túi quần của P, P khai nhận vừa mua được của bị cáo C. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo C thu giữ được 03 gói ma túy bị cáo đã cất giấu, số tiền 42.580.000 đồng và 01 chiếc cân tiểu ly. Kết luận giám định số 723/GĐ-PC09 ngày 04/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 04 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Sùng A P là 0,0428 gam, Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng A C là 14,7238 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP của Chính Phủ. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho vợ bị cáo là Mùa Thị S số tiền 42.560.000 đồng và 01 chiếc cân tiểu ly. Do khối lượng chất ma túy thu giữ của Sùng A P chưa đủ khởi tố hình sự, Sùng A P cũng chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Cáo trạng số 19/CT-VKSHTC ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Giàng A C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Đề nghị chấp nhận quyết định xử lý vật chứng của cơ quan điều tra về việc trả lại số tiền 42.560.000 đồng và 01 chiếc cân tiểu ly cho gia đình bị cáo, tịch thu sung ngân sách số tiền 20.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có, tịch thu tiêu hủy số heroine còn lại và đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và giữ nguyên lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của BLTTHS. [2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của Sùng A P là người mua ma túy của bị cáo, lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận: ngày 21/6/2019 bị cáo đã mua được 01 gói Heroine tại tổ dân phố Bản C, thị trấn T, huyện T, mục đích để sử dụng và bán lẻ khi có người hỏi mua và đến 22 giờ ngày 22/6/2019 bị cáo đã bán 01 cục nhỏ Heroine cho Sùng A P với giá 20.000 đồng và bị thu giữ ngay sau khi bán. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được của bị cáo và Sùng A P là 14,7666 gam Heroine.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 14,7666 gam heroine với mục đích để sử dụng và bán lấy lợi nhuận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của BLHS.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, cảnh tỉnh pháp luật cho những người khác. [4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nông nghiệp, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, điều kiện kinh tế không có nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5] Về các vấn đề khác có liên quan:

Đối với Sùng A P là người đã mua ma túy của bị cáo để sử dụng, do khối lượng chất ma túy chưa đủ khởi tố hình sự, Sùng A P chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được nên HĐXX không có cơ sở để xem xét, xử lý. [6] Về vật chứng vụ án:

- Số tiền 42.560.000 đồng và 01 chiếc cân tiểu ly, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định, HĐXX chấp nhận.

- Số tiền 20.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với số Heroine còn lại là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. [7] Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 900/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [8] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A C phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Giàng A C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/06/2019. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm b Khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 20.000 đồng thu giữ của bị cáo

- Tịch thu tiêu hủy: Số heroine còn lại gồm 14,4115 gam và 05 mảnh nilon dùng để gói chất ma túy. Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa. 4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/11/2019), đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ