vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 19/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Đức Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Đức Ch 02 năm 08 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 17/4/2019). Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Đức Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Đức Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NA HANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:17/2019/HS- ST
Ngày 19 tháng 7 năm 2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Ngọc Thức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Lang.

2. Ông Nguyễn Đức Nhâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Thắm- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân huyện Na Hang tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/TLST-HS, ngày 28/6/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST - HS ngày 05/7/2019 đối với bị cáo:

Nông Đức Ch, tên gọi khác: Không; sinh ngày 23/12/1971; Nơi sinh: huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: tổ dân phố 8, thị trấn N, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoản thể: Không; Con ông: Nông Trường N, đã chết; con bà: Hoàng Thị Biên, sinh năm: 1947; Anh, chị, em ruột: Có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Vi Thị Tr, sinh năm: 1975; Con: bị cáo có 01 con, sinh năm 1995.

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Ngày 23/9/1992 bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 06/HS-ST).

+ Ngày 09/5/1995 bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang xử phạt 24 tháng tù về tội Tổ chức dùng chất ma túy, 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hai tội là 33 tháng tù giam; (Bản án số 87/PTHS).

+ Ngày 08/5/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang xử phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc (Bản án số 10/STHS);

+ Ngày 28/4/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; (Bản án số 03/HSST)

+ Ngày 06/5/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang xử phạt 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; (Bản án số14/STHS)

+ Ngày 26/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang xử phạt 20 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; (Bản án số 15/2008/HSST)

+ Ngày 16/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Bản án số 03/2014/HSST). Đã được xóa án tích.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/4/2019. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nông Trường Th, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố 8, thị trấn N, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 17/4/2019, khu vực tại chốt kiểm soát lâm sản Ph, thuộc thôn Ph, xã N, huyện Na Hang tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Nông Đức Ch, sinh năm 1971, trú tại Tổ dân phố 8, thị trấn N, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Thu giữ 03 gói nhỏ, có đặc điểm (01 gói được bọc bằng 02 lớp nilon màu đen và màu trắng; 01 gói được bọc bằng giấy màu xanh có dòng kẻ trắng, xám; 01 gói được bọc bằng giấy màu đen, trắng), bên trong các gói đều chứa chất bột vón cục bột màu trắng. Quá trình bắt giữ Chúng khai số chất bột trong 03 gói nhỏ là chất ma túy (Heroine) mua về để sử dụng, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản niêm phong vật chứng theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Nông Đức Ch, kết quả: (+) Dương tính.

Tại Kết luận giám định số: 310/GĐKTHS ngày 19/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà thu giữ của Nông Đức Ch là Heroine, có khối lượng: 2,925 gam (hai phẩy chín trăm hai mươi năm gam).

Quá trình điều tra Nông Đức Ch khai: Bản thân là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 17/4/2019, Nông Đức Ch một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, BKS: 22B2-08351 (xe của anh trai Ch là Nông Trường Th) đi đến khu vực ngã ba P, thuộc xã K, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, Ch gặp một người đàn ông giới thiệu tên B, sau khi trao đổi Ch đã mua được 03 gói Heroine có đặc điểm nêu trên, với giá 6.000.000đ. Mua được Heroine trên đường về Ch đã sử dụng một phần bằng cách tiêm chích vào cơ thể; số còn lại bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Ngoài ra Chúng còn khai nhận: Ngoài lần mua Herine trên, khoảng thời gian cuối tháng 2/2019, Chcòn mua một lần Heroine với người đàn ông nêu trên với số tiền 1.700.000đ, Ch đã sử dụng hết.

Về vật chứng vụ án tạm giữ: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa chất ma túy là Heroine; Thu giữ của Nông Đức Ch 01 điện thoại di động nhãn hiệu HPHONE , loại máy 2 sim, máy đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen, BKS: 22B2-08351; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 02 lọ nước NOVOCAIN 3% còn nguyên chưa sử dụng; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nông Đức Ch; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô xe máy đều mang tên Nông Quốc Đ; số tiền 12.000.000đồng của Nông Đức Ch.

Từ nội dung trên Cáo trạng số: 18/CT-VKSNH ngày 27/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố bị cáo Nông Đức Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, không phát sinh tình tiết mới; Kết thúc phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nông Đức Ch từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/4/2019).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa chất ma túy là Heroine; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 02 lọ nước NOVOCAIN 3%; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng.

Trả lại cho Nông Đức Ch 01 điện thoại di động; 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nông Đức Ch; trả lại cho Nông Đức Ch số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Bi cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 17/4/2019, tại khu vực chốt kiểm soát lâm sản Phiêng Rào, thuộc thôn Ph, xã N, huyện Na Hang, Nông Đức Ch đã có hành vi Tàng trữ trái phép 2,925 gam Heroine, mục đích để sử dụng.

. Về áp dụng pháp luật: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cáo trạng số: 18/CT-VKSNH ngày 27/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố bị cáo Nông Đức Ch về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi nhưng vẫn thực hiện việc phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Nông Đức Ch có nhân thân xấu và là người nghiện ma túy, đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình, xã hội khi tái hoà nhập cộng đồng, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung về loại tội pham này.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng liên quan đến vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa chất ma túy là Heroine; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 02 lọ nước NOVOCAIN 3%; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng, không có giá trị tại phiên toà bị cáo đề nghị tiêu huỷ.

Trả lại cho Nông Đức Ch 01 điện thoại di động nhãn hiệu HPHONE, loại máy 2 sim, máy đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nông Đức Ch; số tiền 12.000.000đồng trả lại cho bị cáo Nông Đức Ch, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên B, bi cáo Ch khai đã hai lần bán Heroine cho Ch (01 lần vào cuối tháng 2/2019 và một lần vào ngày 17/4/2019). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thôn M, xã K, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang có một người đàn ông tên là Phạm Gia B, sinh năm: 1959. Sau nhiều lần xác minh, triệu tập nhưng ông B không có mặt tại nơi cư trú, chính quyền sở tại và gia đình đều không xác định được ông B đi đâu, làm gì. Xét thấy hành vi mua bán chất ma túy giữa Chvà một người đàn ông tên B không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án này, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã tách hành vi của đối tượng B để tiếp tục điều tra, giải quyết sau, nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với anh Nông Trường Th do không biết bị cáo Ch sử dụng xe mô tô của mình để làm phương tiện vào việc phạm tội, nên không đề cập xử lý trong vụ án.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen, BKS: 22B2-08351 Nông Đức Ch dùng làm phương tiện đi mua ma tuý và 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô xe máy đều mang tên Nông Quốc Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô, giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô xe máy nêu trên cho anh Nông Trường Th là chủ sở hữu, anh Thi có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Đức Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Đức Ch 02 năm 08 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 17/4/2019).

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa chất ma túy là Heroine; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 02 lọ nước NOVOCAIN 3%; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng.

Trả lại cho Nông Đức Ch 01 điện thoại di động nhãn hiệu HPHONE , loại máy 2 sim, máy đã qua sử dụng;; 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nông Đức Ch.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Na Hang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang lập ngày 01/7/2019).

Trả lại cho bị cáo Nông Đức Ch số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Số tiền trả lại cho bị cáo Nông Đức Ch, Công an huyện Na Hang đã chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang thể hiện tại Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Na Hang ngày 24/4/2019).

4.Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nông Đức Ch phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thị hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ