vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Huy H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam, ngày 20/12/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17 /2019/HS-ST
Ngày 24-4-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Hùng

2. Ông Tán Nghị

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST-HS ngày 11/4/2019 đối với bị cáo:

Hồ Huy H (Tên gọi khác: B), sinh ngày: 31/3/1988 tại Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: 149 đường T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không: quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Đình Q, sinh năm 1957 và bà Đặng Thị Bích T, sinh năm 1962), bị cáo là con thứ 04 trong gia đình có 04 người con; Tiền án: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật và Cưỡng đoạt tài sản”; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam ngày 20/12/2018, có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Đặng Thị Bích T, sinh năm: 1962. Trú tại: 149 đường T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

Bà Võ Thị H, sinh năm: 1993. Trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1987. Trú tại: Thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20.12.2018, Hồ Huy H đang ở phòng trọ tại tổ 10 thôn Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thì có bạn nghiện Trần Minh H2 gọi điện thoại cho Hồ Huy H để rủ H sử dụng ma túy thì H đồng ý hẹn gặp ở phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam để tìm địa điểm sử dụng ma túy. H lấy 02 gói ma túy đã mua trước đó của một người đàn ông tên Nguyễn Văn B tại đường N thuộc phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. H lấy 01 gói ma túy bỏ vào túi quần và 01 gói ma túy bỏ vào cốp xe mô tô 43G1-321.49 rồi điều khiển xe mô tô 43G1-321.49 đi vào phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Đến 16 giờ 05 phút cùng ngày khi H đang đi trên đường ĐT 605 thuộc thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang phát hiện bắt quả tang.

* Tang vật thu giữ

+ 01 gói ni lông bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy trong túi quần của H.

+ 01 gói ni lông bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy trong cốp xe mô tô hiệu AirBlaze: 43G1-321.49 do H điều khiển .

+ 01 xe mô tô hiệu AirBlaze có BKS: 43G1-321.49.

+ 01 điện thoại hiệu Vetu màu vàng (không kiểm tra chất lượng);

+ 20 vỏ bao ni lông;

+ Số tiền 1.400.000đ.

- Thu giữ tại nơi ở trọ của H: 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 cân tiểu ly.

Theo kết luận giám định số 259/GĐ-MT ngày 25.12.2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng thì chất tinh thể màu trắng gói A1, A2 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; khối lượng mẫu A1: 0,459gam; A2 là:1,183 gam (Tổng khối lượng A1 và A2 là 1,642 gam). Còn lại 1,098 gam ma túy và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại cho Cơ quan điều tra sau giám định.

Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKSNDHHV ngày 21/03/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Hồ Huy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Hồ Huy H và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Hồ Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt Hồ Huy H từ 18 đến 24 tháng tù.

Về xử lý tang vật: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 1,098 gam ma túy gam ma tuý hoàn lại sau khi giám định; 20 vỏ bao ni lông, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 cân tiểu ly.

Trả lại cho Hồ Huy H: Số tiền 1.400.000 đồng.

Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại hiệu Vetu màu vàng (không kiểm tra chất lượng).

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Hồ Huy H thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Người làm chứng bà Võ Thị H xác nhận vào khoảng 16 giờ ngày 20/12/2018, Công an huyện Hòa Vang có bắt giữ về việc Hồ Huy H mang theo 02 gói ni lông bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Hồ Huy H tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Do H nghiện ma túy nên khi nghe Trần Minh H2 (không xác định được lai lịch) gọi điện thoại cho H rủ cùng sử dụng ma túy thì H đồng ý hẹn gặp cùng sử dụng ma túy. Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 20/12/2018, Hồ Huy H cất giấu 01 gói ma túy trong túi quần và 01 gói ma túy trong cốp xe rồi đi đến điểm hẹn, H đã cất giấu ma túy là Methamphetamine khối lượng là 1,642 gam chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của Hồ Huy H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Hồ Huy H là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân. Hồ Huy H là người nghiện ma túy nên H đã có hành vi mua ma túy cất giữ để sử dụng. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. HĐXX xét thấy cần phải xét xử một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo H có nhân thân xấu, ngày 31/7/2017, Tòa án nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội "Bắt giữ người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản", chấp hành xong hình phạt ngày 19/01/2018, chưa hết thời hạn xóa án tích mà bị cáo H tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, cha của bị cáo là thương binh hạng 3/4 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Đối với đối tượng tên Trần Minh H2 đã gọi điện thoại cho H rủ cùng sử dụng ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, địa chỉ, lai lịch của đối tượng nên không có cơ sở để xử lý .

Đối với Nguyễn Văn B là đối tượng đã bán ma túy cho H nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, địa chỉ, lai lịch của đối tượng nên không có cơ sở để xử lý.

Về Xử lý tang vật: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử lý như sau:

Đối với đồ vật tạm giữ là số tiền 1.400.000 đồng, số tiền này không liên quan đến việc phạm tội nên tuyên trả lại cho H là phù hợp.

Đối với 1,098 gam ma túy gam ma tuý hoàn lại sau khi giám định; 20 vỏ bao ni lông, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 cân tiểu ly, đây là những tang vật không có giá trị sử dụng, do đó tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại hiệu Vetu màu vàng (không kiểm tra chất lượng), H dùng điện thoại này để liên lạc với Trần Minh H2 đến điểm hẹn để cùng sử dụng ma túy nên HĐXX tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Những vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang đang tạm giữ theo biên bản giao nH vật chứng ngày 26/3/2019.

Đối với xe mô tô BKS 43G1-321.49 mà H sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe này là tài sản của bà Đặng Thị Bích T đứng tên sở hữu, việc H mượn xe mô tô để tàng trữ ma túy thì bà T hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang không có cơ sở xử lý bà T, đồng thời đã trả lại xe mô tô tô 43G1-321.49 và bà T không có yêu cầu gì liên quan đến xe trên nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, HĐXX chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Hồ Huy H phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Hồ Huy H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam, ngày 20/12/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 1,098 gam ma túy gam ma tuý hoàn lại sau khi giám định; 20 vỏ bao ni lông, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 cân tiểu ly.

Tuyên trả lại cho Hồ Huy H số tiền 1.400.000 đồng.

Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại hiệu Vetu màu vàng (không kiểm tra chất lượng).

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2019.

4. Về án phí: Bị cáo Hồ Huy H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về thời hạn kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bà Đặng Thị Bích T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ