vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 17/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trương Hoài P 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trương Hoài P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trương Hoài P cùng đồng bọn bị xét xử về tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HS-ST.
Ngày 17/6/2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoành.

Ông Trần Thanh Tùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Quãng Thanh Trung, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hứa Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2019/TLST - HS, ngày 03 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST- HS, ngày 31 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Trƣơng Hoài P, sinh năm 1985, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn:11/12; dân tô ̣c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Viê ̣t Nam; con ông Trương Văn T, sinh năm 1956 và bà Bùi Thị V, sinh năm 1965; có vợ tên Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1989, có 01 người con sinh năm 2013. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/02/2019 đến nay, bị cáo có mặt.

2. Bị cáo Thạch Hòa B, sinh năm 1975, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp N, xã Nhị T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn : 3/12; dân tô ̣c : Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo : Phật; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam ; con ông Thạch R, sinh năm 1945 và bà Thạch Thị N, sinh năm 1953; có vợ tên Thạch Thị H, sinh năm 1974, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2000. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/02/2019 đến nay, bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Thạch Hòa B: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

3. Bị cáo Trần Văn T (tên gọi khác: U), sinh năm 1971, nơi sinh tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp L, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình đô ̣ ho ̣c vấn: 9/12; dân tô ̣c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Cao Thị K (đã chết), có vợ tên Lâm Thị K, sinh năm 1973, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1998. Tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, ngày 20/3/2018 bị Công an huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền; nhân thân: Có tiền sự; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/02/2019 đến nay, bị cáo có mặt.

Người làm chứng:

Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

Ông Lâm Thành Đ, sinh năm 1978. Có mặt.

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Anh Kim S, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Anh Thạch Trung H, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người phiên dịch: Ông Kim Na R– nguyên Cán bộ phòng Giáo dục và Đào tạo huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: Tiền Việt Nam: 7.710.000 đồng; 01 cân đồng hồ màu xanh loại 05 kg (không có giá cân); 02 cây cựa gà bằng kim loại, màu xám đen, mũi nhọn, có chiều dài bằng nhau là 06cm, đế cựa hình ngũ giác có cạnh dài nhất là 2,5cm, cạnh ngắn nhất là 1,9 cm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 22/12/2018, tại sân nhà ông Nguyễn Văn B thuộc ấp C, xã N, huyện c, Trương Hoài P làm trọng tài cho các đối tượng cá cược đá gà ăn thua bằng tiền, giữa gà Bướm trọng lượng 2,8kg của anh Kiến Thanh D đá với gà Điều trọng lượng 2,8kg của anh Nguyễn Văn G, cá cược số tiền 1.000.000 đồng. Khi hai bên chuẩn bị thả gà thì bị lực lượng Công an huyện C bắt quả tang. Qua điều tra, xác minh làm rõ vào ngày 21/12/2018, Trương Hoài p, Thạch Hòa B và Trần Văn T có hành vi đánh bạc như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 21/12/2018, Trương Hoài P liên hệ hẹn gà để làm trọng tài cho các đối tượng tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược đá gà ăn thua bằng tiền nhằm hưởng tiền huê hồng (tiền xâu), P quy định thu tiền huê hồng số tiền cá cược trong sổ là 10%, số tiền cá cược ngoài sổ là 03%.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, các đối tượng ôm gà đến khu vực sân đất trống thuộc ấp N, xã N, huyện C, Trương Hoài P cung cấp dụng cụ gồm: Cân đồng hồ, băng keo cho các đối tượng cân gà, quấn cựa gà và làm trọng tài. Phía bên gà của Thạch Hòa B là gà Xanh (lông màu xanh, chân xanh) trọng lượng 3,3kg do Thạch Trung H quấn cựa, B thả gà. Phía bên gà của Huỳnh Văn B là gà Xám (lông màu xám) trọng lượng 3,3kg do Nguyễn Văn H quấn cựa, thả gà, P đưa ra nhiều tỷ lệ kèo cá cược khác nhau để những người chơi tham gia cá cược, cụ thể như sau:

Cá cược trong sổ: Đá đồng số tiền là 1.000.000 đồng và 01 xác gà trị giá 300.000 đồng. Bên gà của B do một mình B tham gia, bên gà của Huỳnh Văn B do một mình anh B tham gia.

Cá cược ngoài sổ số tiền là 3.500.000 đồng:

- Bên gà của B do B đứng ra lãnh sổ và cá cược 3.500.000 đồng thông qua trọng tài là P. Trong đó B trực tiếp cá cược cho các đối tượng như sau:

+ Cá cược số tiền 1.000.000 đồng, bên gà của B chấp bạc 10 ăn 9 (nghĩa là B thua là 1.000.000 đồng, thắng là 900.000 đồng), trong số tiền này B trực tiếp tham gia 500.000 đồng; lãnh sổ cá cược cho H 500.000 đồng.

+ Cá cược số tiền 2.000.000 đồng, bên gà của B chấp bạc 10 ăn 8 (nghĩa là B thua là 2.000.000 đồng, thắng là 1.600.000 đồng), trong số tiền này B lãnh sổ cá cược cho Trần Văn T 1.000.000 đồng; Kim S 500.000 đồng; Thạch Trung H 500.000 đồng.

+ Cá cược số tiền 500.000 đồng, bên gà của B chấp bạc 10 ăn 7 (nghĩa là B thua là 500.000 đồng, thắng là 350.000 đồng), do một mình B tham gia.

- Bên gà của Huỳnh Văn B, các đối tượng cá cược trực tiếp thông qua trọng tài là Trương Hoài P tổng cộng 3.500.000 đồng, cụ thể như sau:

+ Huỳnh Văn B cá cược số tiền 1.000.000đồng, được chấp bạc 10 ăn 8 (nghĩa là nếu thua là 800.000 đồng, thắng là 1.000.000đồng).

+ Nguyễn Văn H cá cược số tiền 1.000.000 đồng, trong đó 500.000 đồng được chấp bạc 10 ăn 8 và 500.000 đồng được chấp bạc 10 ăn 7 (nghĩa là nếu thua là 750.000 đồng, thắng là được 1.000.000 đồng).

+ Lâm Thành Đ cá cược số tiền 500.000 đồng, được chấp bạc 10 ăn 8 (nghĩa là nếu thua 400.000 đồng, thắng là 500.000 đồng).

+ Hai thanh niên không biết tên, địa chỉ cụ thể, cá cược số tiền 1.000.000 đồng (mỗi người 500.000đồng), được chấp bạc 10 ăn 9 (nghĩa là nếu thua thì mỗi người thua 450.000 đồng, thắng là 500.000 đồng).

Kết quả cá cược bên gà của B thắng, P gom tiền cá cược trong sổ, ngoài sổ của bên thua được tổng cộng 4.150.000 đồng giao lại cho T (do lúc này B đang tháo cựa gà nên nhờ T lấy tiền thắng cược dùm). Sau đó T lấy tiền thắng cược của mình là 800.000 đồng, còn lại 3.350.000 đồng đưa lại cho B, sau đó B đưa tiền thắng cược cho H 400.000 đồng, Kim S 400.000 đồng, H 450.000 đồng, B còn lại tiền thắng cược là 2.100.000 đồng. B đưa tiền huê hồng cho P 150.000 đồng (trong đó Bình 110.000 đồng và gom tiền từ Kim S 20.000 đồng, H 10.000 đồng, H 10.000 đồng), còn T đưa tiền huê hồng cho P 30.000 đồng. P lấy tiền huê hồng tổng cộng 180.000 đồng.

Trận gà này, các bị can tham gia đánh bạc với số tiền cụ thể như sau:

- Thạch Hòa B tham gia đánh bạc với tổng số tiền là 8.950.000đ (gồm tiền trực tiếp tham gia cá cược và lãnh sổ cá cược tổng cộng 4.800.000 đồng; tiền thắng cược 4.150.000 đồng).

- Trần Văn T tham gia đánh bạc với số tiền 1.800.000 đồng (tiền cá cược 1.000.000 đồng và tiền thắng 800.000 đồng). Tuy số tiền tham gia đánh bạc lần này không đủ định lượng nhưng trước đó ngày 20/3/2018, Thiều bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, đến nay vẫn còn tiền sự nhưng lại tiếp tục vi phạm.

- Trương Hoài P liên hệ hẹn gà, cung cấp cân đồng hồ, băng keo phục vụ cho việc cá cược đá gà, đồng thời làm trọng tài để hưởng tiền huê hồng thu lợi bất chính. P đã thu tiền huê hồng 180.000 đồng, do đó P là đồng phạm về tội đánh bạc với vai trò là người giúp sức.

Ngày 13/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trương Hoài P, Thạch Hòa B, Trần Văn T về tội đánh bạc và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Đối với Thạch Trung H, Huỳnh Văn B, Lâm Thành Đ, Kim S và Nguyễn Văn Hà tham gia đánh bạc với số tiền không đủ định lượng để xử lý hình sự. Mặc khác, các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người là 1.500.000 đồng; riêng đối với Kim S xử phạt số tiền 2.000.000 đồng. Đối với H và 02 người chưa biết tên, địa chỉ cụ thể. Khi nào xác minh, làm việc được sẽ có hình thức xử lý sau.

Đối với trận đá gà bị bắt quả tang ngày 22/12/2018 xảy ra tại ấp Chông B, xã N, huyện C, do các đối tượng tham gia với số tiền không đủ định lượng nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã quản lý các vật chứng gồm: Số tiền đánh bạc và tiền thu lợi bất chính tổng cộng 7.710.000 đồng (trong đó quản lý của B 3.990.000 đồng, T 1.770.000 đồng, P 180.000 đồng, Thạch Trung H 890.000 đồng, Kim S 880.000 đồng); 01 cân đồng hồ màu xanh loại 05kg (không có giá cân), 02 cây cựa gà bằng kim loại. Đối với 01 con gà trống trọng lượng 3,3kg, có lông màu xanh, chân xanh của Bình bị quản lý, sau đó đã chết nên tiêu hủy.

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSCN, ngày 02/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định truy tố các bị can Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 21/12/2018, tại ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Trương Hoài P có hành vi cung cấp cân đồng hồ, băng keo phục vụ cho việc cá cược đá gà, đồng thời làm trọng tài cho bị cáo Thạch Hòa B và bị cáo Trần Văn T đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược đá gà ăn thua bằng tiền, bị cáo B đánh bạc với số tiền 8.950.000 đồng, bị cáo T đánh bạc số tiền 1.800.000 đồng, vào ngày 20/3/2018 bị cáo Thiều bị Công an huyện T, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, tiền sự vẫn còn nhưng bị cáo lại tiếp tục vi phạm. Bị cáo Phú làm trọng tài lấy tiền huê hồng thu lợi bất chính 180.000 đồng.

Các tờ tường trình, các biên bản ghi lời khai, các biên bản hỏi cung các bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, các bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng, mà hoàn toàn thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Hứa Văn Biên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng mà bản Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo P, T mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí. Bị cáo B được miễn nộp án phí.

Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Công H bào chữa cho bị cáo Thạch Hòa B phát biểu ý kiến: Khẳng định bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSCN, ngày 02/5/2019 của Viện kiểm sát huyện C truy tố bị cáo Thạch Hòa B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng. Trợ giúp viên pháp lý không bào chữa về tội danh và khung hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bởi vì quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc Khmer nên việc am hiểu pháp luật có phần hạn chế, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Ngoài ra, bị cáo B thuộc diện được miễn nộp án phí hình sự.

Bị cáo Trương Hoài P nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị cáo có tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Thạch Hòa B nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị cáo có tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Trần Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị cáo có tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt quả tang và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 13 giờ ngày 21/12/2018, tại ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Trương Hoài P có hành vi cung cấp cân đồng hồ, băng keo phục vụ cho việc cá cược đá gà, đồng thời làm trọng tài cho bị cáo Thạch Hòa B và bị cáo Trần Văn T đánh bạc trái phép dưới hình thức cá cược đá gà ăn thua bằng tiền cụ thể:

- Bị cáo Thạch Hòa B đánh bạc với số tiền 8.950.000 đồng.

- Bị cáo Trần Văn T đánh bạc số tiền 1.800.000 đồng, tuy số tiền đánh bạc không đủ định lượng, nhưng bị cáo có tiền sự, vào ngày 20/3/2018 bị cáo T bị Công an huyện T, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 48/QĐ-XPVPHC, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, tiền sự vẫn còn, ngày 21/12/2018 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền thì bị Công an lập biên bản phạm tội quả tang.

- Bị cáo Trương Hoài P liên hệ hẹn gà, cung cấp cân đồng hồ, băng keo phục vụ cho việc cá cược đá gà, đồng thời làm trọng tài để hưởng tiền huê hồng thu lợi bất chính. Bị can P đã thu tiền huê hồng 180.000 đồng, do đó P là đồng phạm về tội đánh bạc với vai trò là người giúp sức.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người bào chữa đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người bào chữa đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an nơi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật nhà nước ta nghiêm cấm đánh bạc trái phép, ăn thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào, nhằm thu lợi bất chính. Bởi vì đánh bạc là một tệ nạn xã hội, từ việc đánh bạc có thể dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe tốt, lẽ ra các bị cáo phải biết chọn một nghề nghiệp chính đáng để có thu nhập nuôi sống bản thân và giúp ít cho gia đình, nhưng với bản tính thích ngồi không hưởng thụ và hám lợi từ việc cá cược đá gà ăn thua bằng tiền không phải tốn nhiều công sức nhưng vẫn có thu nhập cao, từ những tư tưởng và suy nghĩ đó đã dẫn các bị cáo đến con đường phạm tội.

Các bị cáo cá cược đá gà ăn thua bằng tiền địa điểm tại đất trống thuộc ấp N, xã N, huyện C diễn ra công khai, quy tụ nhiều người tham gia, gây ra dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng gia đình văn hóa, xã văn hóa - nông thôn mới và bài trừ các tệ nạn xã hội, do đó cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tù nhất định tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này ra bản thân các bị cáo chấp hành tốt pháp luật của nhà nước, các bị cáo là lao động chính trong gia đình. Để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, do đó không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú để theo dõi, giám sát, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền Việt Nam: 7.710.000 đồng bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ từ các con bạc gồm Thạch Hòa B 3.990.000 đồng; Trường Hoài P 180.000 đồng; Trần Văn T 1.770.000 đồng; Kim S 880.000 đồng và Thạch Trung H 890.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo và các con bạc khai nhận đã sử dụng số tiền này vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính, Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với các vật chứng gồm: 01 cân đồng hồ màu xanh loại 05 kg (không có giá cân); 02 cây cựa gà bằng kim loại, màu xám đen, mũi nhọn, có chiều dài bằng nhau là 06cm, đế cựa hình ngũ giác có cạnh dài nhất là 2,5cm, cạnh ngắn nhất là 1,9 cm. Đây là công cụ các con bạc đã sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy.

. Xét ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Xét lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý đối với bị cáo Thạch Hòa B đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Trợ giúp viên pháp lý đề nghị áp dụng là không phù hợp với quy định pháp luật nên không được chấp nhận.

. Về án phí hình sự sơ thẩm:

- Buộc các bị cáo Trương Hoài P và Trần Văn T mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí.

- Xét thấy bị cáo Thạch Hòa B là người dân tộc thiểu số, sống ở xã N, huyện C thuộc xã đặc biệt khó khăn, bị cáo Thạch Hòa B có làm đơn xin miễn nộp án phí, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Căn cứ các Điều 12, 14, 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Thạch Hòa B được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trương Hoài P, Thạch Hòa B và Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trương Hoài P 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trương Hoài P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo Trương Hoài P thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch Hòa B 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Thạch Hòa B cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo Thạch Hòa B thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo Trần Văn T thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên tịch thu tiền Việt Nam: 7.710.000 đồng (Bảy triệu, bảy trăm mười nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cân đồng hồ màu xanh loại 05 kg (không có giá cân); 02 cây cựa gà bằng kim loại, màu xám đen, mũi nhọn, có chiều dài bằng nhau là 06cm, đế cựa hình ngũ giác có cạnh dài nhất là 2,5cm, cạnh ngắn nhất là 1,9 cm.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Buộc bị cáo Trương Hoài P nộp 200.000 đồng án phí.

+ Buộc bị cáo Trần Văn T nộp 200.000 đồng án phí.

- Căn cứ các Điều 12, 14, 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Thạch Hòa B được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ