vanban.org

Bản án 17/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 27/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đăng S phạm: “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đăng S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/02/2019. Tuyên bố bị cáo Lường Đức C phạm: “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Dang S va Luong Duc C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đăng S phạm: “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HS-ST
Ngày 27 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Doanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Đăng Hùng

Bà Nguyễn Thị Gấm

- Thƣ ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Bà Bàn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2019/TLST-HS ngày 09/6/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST-HS ngày 13/6/2019 đối với các bị cáo:

Trầ n Đăng S (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 01 tháng 4 năm 1989 tại thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở : Xóm T 2, xã Th, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trầ n Đăng S và bà Doã n Thị Y; vợ, con: Chưa có ; tiền sự: Không; tiền án: 01 (một) – Ngày 15/9/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; nhân thân: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân thành ph ố T xử phạ t 30 tháng tù về tộ i “Tà ng trữ trá i phép chất ma túy” - đã đượ c xó a á n tí ch.

Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 27/02/2019 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉ nh Bắ c Kạ n - Có mặt.

Lƣờ ng Đƣ́ c C (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 18 tháng 12 năm 1989 tại huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở : Thôn Th, xã H, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lườ ng Văn H và bà Hà Thị Q; có vợ Triệu Thị D; con: Có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: 02 (hai) – Ngày 23/10/2012 bị Tòa án nhân dân thà nh phố T xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 08/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạ t 12 tháng tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”.

Bị cáo đang bị tạ m giam từ ngà y 28/02/2019 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Trầ n Văn T (tên gọ i khá c: Trầ n Quố c H) - Sinh năm 1984; trú tại: Phố N, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.

+ Đinh Xuân L - Sinh năm 1987; trú tại: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.

+ Hứ a Phú c S1 - Sinh năm 1976; trú tại: Thôn N, xã L, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.

+ Nguyễ n Duy Q - Sinh năm 1992; trú tại: Thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.

+ Hà Thiêm T - Sinh năm 1993; trú tại: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/02/2019, Tổ công tá c Công an huyện B tuầ n tra kiể m soá t tạ i khu vự c thôn Kh , xã H, huyệ n B phát hiện Trầ n Đăng S (sinh năm 1989; trú tại xóm Tc 2, xã Th, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) đang đi bộ tạ i ngã ba r ẽ vào xã H có biểu hiện tàng trữ , vậ n chuyể n ma tú y . Tổ công tác kiểm tra phá t hiện tại túi quần bên phải phía trước của S đang mặ c có 03 gói nhỏ bên trong đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục và dạng bộ t nghi là ma túy (heroin). Tổ công tá c tiế n hành thử phản ứng nhanh số chất bột trên cho kế t quả dương tính với ma túy (heroin). Tổ công tá c niêm phong cá c gó i chấ t bộ t như lú c đầ u và niêm phong trong phon g bì ký hiệu “S” . Đồng thời, tổ công tá c cũng phát hiện và tạm giữ của Sinh một điện thoại di động n hãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng màu vàng đồng đã qua sử dụng và niêm phong vào phong bì ký hiệu “S2”; mộ t điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Nokia mà u xanh đen đã qua sử dụng, đượ c niêm phong tron g phong bì ký hiệ u “ S1”; số tiề n 530.000đ niêm phong và o phong bì ký hiệu “S3”.

Tại biên bản cân xác định khối lượng chất bộ t màu trắng dạng bộ t và dạ ng cục có phong bì ký hiệ u “S”có khố i lượ ng 1,108g. niêm phong toà n bộ số chấ t bộ t trên và o phong bì ký hiệ u “S4” để gử i đi giá m đị nh.

Quá trình điều tra, Trầ n Đăng S khai nhậ n:

Ngày 22/02/2019, S gọi điện cho Lường Đức C (sinh năm 1989; trú tại: Thôn Th, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) đến nhà chơi, C đồ ng ý . S ra Bế n xe khách Thái Nguyên để bắt xe đế n nhà C. Trong lúc đợ i xe, S mua củ a mộ t ngườ i đà n ông khoả ng 45 - 50 tuổ i không biế t tên , đị a c hỉ 01 gói ma túy với giá 500.000đ rồ i bắ t xe khá ch lên nhà C . Khi đế n nhà C, cả hai người cùng rủ nhau đến khu vực theo đườ ng liên xã H - L sử dụ ng ma tú y . Buổ i tố i cù ng ngà y , S ngủ tại nhà C. Đế n sáng ngày 23/02/2019, C dùng xe môtô chở S lên thị trấ n P, huyệ n B chơi. Đế n khoả ng 9 giờ cùng ngày, có Trần Văn T (sinh năm 1984, trú tại: Phố N, thị trấn P, huyệ n B) và Đinh Xuân L (sinh năm 1987; trú tại: Thôn C, xã P, huyệ n B) đến gặp C hỏi C mua ma tú y. C hỏi S có bán ma túy cho T không thì S đồ ng ý . C chở S đến đoạn đường Quốc lộ 3 thuộ c khu vự c dố c N , thị trấn P, L chở T đi theo. Khi gặp nhau, T đưa cho C số tiền 200.000đ, S đưa cho T 01 gói ma túy.

Ngày 24/02/2019, S mộ t mì nh bắ t xe khá ch từ thị trấ n P , huyệ n B xuố ng Bến xe khách Thái Nguyên với mục đích tìm m ua ma tú y và hẹ n C 15 giờ cù ng ngày đón S tại cổng hộ i xuân thị trấn P. Tại khu vực bến xe Thái Nguyên, S mua vớ i mộ t ngườ i đà n ông khoả ng 45 - 50 tuổ i không rõ tên đị a chỉ 01 gói ma túy vớ i giá 1.200.000đ rồ i tiế p tục bắt xe khách về thị trấn P, huyệ n B. Khi S đến thị trấ n P thì C đó n và chở S đi và o đoạ n đườ ng liên thôn K - Kh thuộ c xã P, huyệ n B. Cùng lúc đó Nguyễ n Duy Q (sinh năm 1992; trú tại: Thôn N, xã V, huyệ n B) điề u khiể n xe mô tô đi mộ t mì nh; Hà Thiêm T (sinh năm 1993; trú tại: Thôn N, xã H, huyệ n B) điề u khiể n xe môtô chở theo Hứ a Phú c S 1 (sinh năm 1976; trú tại: Thôn N, xã L, huyệ n B) đi theo S và C. Khi đến đoạ n đườ ng dân sinh ở chân đồ i Th thuộ c thôn K, xã P thì dừng lại. Tại đây, S bán cho S1 mộ t gó i ma tú y vớ i giá 100.000đ. Sau đó , Q bảo mua mộ t gó i vớ i giá 200.000đ nhưng nợ 100.000đ, S không đồ ng ý . Q quay sang đưa cho C 100.000đ và bảo C quen S thì nói hộ cho Q nợ 100.000đ. C cầ m tiề n củ a Q rồ i đưa cho S và nói “cứ cho nó nợ đi” . S cầm tiền rồi đưa cho Q 01 gói ma túy. Sau khi S1 sử dụ ng xong gói ma túy vừa mua đượ c thì quay lạ i hỏ i S mua mộ t gó i ma tú y vớ i giá 100.000đ nhưng chỉ cò n 20.000đ nên nó i vớ i S cầ m cố giấ y phé p lá i xe. S không đồ ng ý . S1 lại đưa 20.000đ và giấ y phé p lá i xe cho C. C cầ m tiề n và giấ y ph ép lái xe xem qua rồ i đưa cho S và nói “giúp anh ấy tí”. S đồ ng ý cầ m tiền và đưa lại giấy phép cho C giữ rồ i đưa cho S1 01 gói ma túy. Sau khi bá n ma tú y xong , S đưa cho C 01 gói ma tú y để C sử dụ ng. Quá trình sử dụng ma túy , C chia cho T mộ t nử a. Cùng ngày, S1 đã trả cho S 80.000đ và lấ y lại giấy phép lái xe từ C.

Khoảng 9 giờ ngà y 27/02/2019, Sinh mộ t mì nh đi xe khá ch từ thị trấ n P , huyệ n B xuố ng khu vự c Bế n xe khá ch T , tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy . Tại đây, S mua đượ c 03 gói nhỏ ma tú y vớ i giá 1.600.000đ vớ i mộ t ngườ i đàn ông không rõ tên , đị a chỉ . Sau khi mua xong ma tú y , Sinh cấ t số ma tú y mua đượ c vào túi quần bên phải đang mặc rồi tiếp tục bắt xe khách quay lại huyện B , tỉnh Bắ c Kạ n. Khi đế n khu vự c ngã ba rẽ và o xã H, huyệ n B thì bị bắt và thu giữ toàn bộ tang vậ t.

Căn cứ và o lờ i khai củ a Trầ n Đăng S và những ngườ i liên quan, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) đã triệ u tậ p Lườ ng Đức C để làm rõ hành v i mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, CQCSĐT đã thu giữ củ a Canh 01 ví giả da đã qua sử dụng bên tro ng có 01 thẻ điều trị Methadone, 01 giấ y chứ ng minh nhân dân mang tên Lườ ng Đứ c C ; số tiề n 120.000đ, niêm phong trong phong bì ký hiệ u “C”.

Tại bản kết luận giám định số 54/KTHS-MT ngà y 11/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn , kế t luậ n: Mẫ u chấ t trong phong bì ký hiệ u S4 gử i giá m đị nh là ma tú y, loại Heroin có khối lượng là 1,108g (mộ t phả y mộ t không tá m gam).

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-BT ngày 07/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện B để xét xử đối với Trầ n Đăng S về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điể m b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) và Lường Đức C về tộ i “Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y” theo điể m b, q khoả n 2 Điề u 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 251; Điều 17; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trầ n Đăng S từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ.

- Áp dụng điể m b, q khoản 2 Điều 251; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lườ ng Đứ c C từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ.

- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T54” bên trong có chứa 1,070g ma túy và phong bì niêm phong ban đầ u ký hiệu “S 4” do cơ quan giám định trả lại; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “S5” bên trong có chứa giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “S”.

Trả lại 01 chứng minh nhân dân mang tên Trầ n Đăng S cho bị cá o S ; 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng , 01 chứ ng minh nhân dân mang tên Lườ ng Đức C, 01 thẻ điều trị Methadone mang tên Lườ ng Đứ c C cho bị cáo C.

Buộc bị cáo Trầ n Đăng S nộp lại số tiền 500.000đ do bán ma túy mà có .

Tiế p tụ c tạm giữ số tiền 530.000đ; 01 chiế c điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u Nokia bà n phí m cứ ng mà u xanh đen đã qua sử dụ ng , 01 điệ n thoạ i nhã n hiệ u Sam sung mà n hì nh cả m ứ ng mà u và ng đã qua sử dụ ng thu giữ của Sinh để thi hành án cho bị cá o S.

Tiế p tụ c tạm giữ số tiền 120.000đ thu giữ củ a bị cá o C để thi hà nh á n cho bị cáo Canh.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩ m theo quy đị nh.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thà nh khẩ n khai bá o, thừa nhận hành vi và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo S đề nghị được trả lại số tiền 530.000đ, giấy chứng minh nhân dân. Bị cáo C đề nghị được trả lại số tiền 120.000đ, ví giả da, giấy chứng minh nhân dân, thẻ điều trị Methadone.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định: Do bản thân sử dụng chất ma túy nên trong các ngày 22, 24, 27/02/2019 tại khu vực Bến xe khách Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Trần Đăng S đã có hành vi mua ma túy để sử dụng và cùng với Lường Đức C bán cho nhiều con nghiện khác để kiếm lời, cụ thể: Khoảng 9 giờ ngày 23/02/2019, S cùng C bán cho Trần Văn T 01gói ma túy với giá 200.000đ tại đoạn đường QL3 thuộc dốc N, thị trấn P, huyện B. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/02/2019, tại đoạn đường dân sinh thuộc thôn K, xã P, huyện B, S cùng C bán cho Hứa Phúc S1 01 gói ma túy với giá 100.000đ, bán cho Nguyễn Duy Q 01 gói ma túy với giá 200.000đ nhưng cho Q nợ 100.000đ, rồi tiếp tục bán 01 gói cho S1 với giá 100.000đ. Ngày 27/02/2019 S mua 03 gói ma túy có khối lượng 1,108g để sử dụng và bán kiếm lời nhưng chưa kịp sử dụ ng và bán thì bị bắt và thu giữ toàn bộ tang vật.

Tuy giữa hai bị cáo không có thỏa thuận trước, nhưng bị cáo C biết rõ khi đi chơi, S có mang theo ma túy. C đã sử dụng môtô chở S đến địa điểm bán ma túy, giúp S thu tiền của người mua, có lời nói với Sinh để cho Q, S1 nợ tiền mua ma túy và được S đồng ý. Do đó, Lường Đức C là đồng phạm của S với vai trò là người thực hành.

Hành vi của các bị cáo được thực hiện khi các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gia tăng tệ nạn nghiện ma túy tại địa phương. Khi thực hiện hành vi bán ma túy, bị cáo C có hai tiền án chưa được xóa án tích. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a, ..........................................................................................................

b, Phạm tội 02 lần trở lên;

…………………………………………………………………………………….

q, Tái phạm nguy hiểm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo thấy:

Đối với bị cáo S: Bị cáo nhân thân xấu - Đã hai lần bị kết án. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, khi bị bắt quả tang, bị cáo đã tự khai ra các lầ n bán ma túy vào các ngày 23, 24/02/2019 nên bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệ m hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với bị cáo C: Bị cáo có nhân thân xấu - đã hai lần bị kết án chưa được xóa án tích. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo có ông nội là Lường Văn Th được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo gây ra đối với xã hội, xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần buộc các bị cáo đi cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính giáo dục cho các bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên các bị cáo không có khả năng thi hành. Vì vậy, HĐXX không áp dụng.

. Đối với hành vi của S cho C ma túy để sử dụng vào các ngày 22, 24/02/2019 và hành vi của C cho Hà Thiêm T ma túy để sử dụng vào ngày 24/02/2019 nhưng không nhằ m mụ c đí ch kiế m lờ i nên CQCSĐT không xử lý hình sự đối với S, C về cá c hà nh vi trên là đú ng quy đị nh.

. Đối với hành vi của những người có liên quan đến vụ án:

- Đối với những người đàn ông mà S khai được mua ma túy vào các ngày 22, 24, 27/02/2019 tại khu vực Bến xe khách Thái Nguyên nhưng do S không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không có cơ sở để xác minh làm rõ.

- Đối với hành vi của Trần Văn T, Đinh Xuân L, Hứa Phúc S1, Nguyễn Duy Q là những người đã mua ma túy với S, C để sử dụng cho bản thân, tuy nhiên do chưa cấu thành tội phạm nên CQCSĐT đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với Hà Thiêm T là người được Lườ ng Đứ c C cho sử dụ ng ma tú y và không đượ c chứ ng kiế n việ c S , C bán ma túy cho những người nghiện nên CQCSĐT xem xé t xử lý hà nh chí nh là phù hợ p.

. Về vật chứng của vụ án, biện pháp tư pháp:

- 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu “T54” bên trong có chứa 1,070g ma túy và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “S4”; 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu “S5” bên trong có chứa giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “S”. Tất cả không có giá trị hoặc bị cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu “S6”, bên trong có chứa một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA bàn phím cứng, màu xanh đen, đã qua sử dụng, một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, 02 phong bì niêm phong ban đầu. Hai chiếc điện thoại thu của bị cáo Sinh không được sử dụng liên lạc phục vụ việc mua bán ma túy nên cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo S. Vỏ phong bì ký hiệu “S6” cùng số phong bì bên trong không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “S7” bên trong có 530.000đ thu giữ của bị cáo S và phong bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số tiền trên không có liên quan đến hành vi phạm tội của S nên cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo S. Vỏ phong bì ký hiệu “S7” và phong bì bên trong không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “S7” bên trong có 120.000đ thu giữ của bị cáo C và phong bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số tiền trên không có liên quan đến hành vi phạm tội của C nên cần tạm giữ để thi hành án cho C. Vỏ phong bì ký hiệu “S7” cùng phong bì bên trong không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền do bị cáo S bán ma túy vào các ngày 23, 24/02/2019 là 500.000đ. Số tiền này, S không chia cho C mà tiêu sài cá nhân hết nên cần buộc S nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

- 01(một) chứng minh nhân dân mang tên Trần Đăng S; 01 (một) ví giả da màu nâu đã qua sử dụng thu giữ của C; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Lường Đức C; 01 (một) thẻ điều trị Methadone mang tên Lường Đức C. Tất cả các tài sản này không có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho các bị cáo.

- 01 (một) chiế c xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 97F6 - 5543 được bị cáo C sử dụng chở S đi bán ma túy vào các ngày 23, 24/02/2019. Qua điều tra đã xác định được chiếc môtô này là tài sản của ông Lường Văn H, bà Hà Thị Q (bố mẹ đẻ của bị cáo C). Canh lấy xe đi chở S đi chơi và bán ma túy thì ông H, bà Q không biết nên CQCSĐT không tạm giữ chiếc môtô này.

- Đối với những chiếc xe môtô mà L dùng để chở T, T chở S1, Q điều khiển đi mua ma túy với S, C. Qua điều tra đã xác định được các xe trên đều là tài sản mượn của người khác nên CQCSĐT không tạm giữ.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Trần Đăng S phạm: “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đăng S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/02/2019.

- Căn cứ: Điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Lường Đức C phạm: “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lường Đức C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/02/2019.

- Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T54” bên trong có chứa 1,070g ma túy và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “S4”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “S5” bên trong có chứa giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “S”; 01 (một) vỏ phong bì ký hiệu “S6” cùng 02 (hai) phong bì niêm phong ban đầu; 02 (hai) vỏ phong bì ký hiệu “S7” cùng phong bì niêm phong ban đầu.

+ Trả lại cho Trần Đăng S 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Trần Đăng S.

+ Trả lại cho Lường Đức C: 01 (một) ví giả da màu nâu đã qua sử dụ ng ; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Lường Đức C; 01 (một) thẻ điều trị Methadone mang tên Lường Đức C.

+ Tiế p tụ c t ạm giữ của Trần Đăng S: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA bàn phím cứng, màu xanh đen, đã qua sử dụng, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu vàng đồng, đã qua sử dụng chứa trong phong bì niêm phong ký hiệu “S6”; 530.000đ (năm trăm ba mươi nghìn đồng) chứa trong phong bì ký hiệu “S7” để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho bị cáo S.

+ Tiế p tụ c t ạm giữ của Lường Đức C số tiền 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng” chứa trong phong bì niêm phong ký hiệu “S7” để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho bị cáo C.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 21/6/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).

- Buộc bị cáo Trần Đăng S nộp lại số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) do bá n ma tú y mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sư; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:

Các bị cáo Trần Đăng S, Lường Đức C mỗ i bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ