vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn T B. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn T B được ly hôn với anh Nguyễn Đ C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn T B xin ly hôn anh Nguyễn Đ C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 19/9/2019.
V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Đức Hùng.

2. Ông Nguyễn Văn An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thu Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tôn - Kiểm sát viên.

Ngày 19/9/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2019/TLST-

HNGĐ ngày 17/6/2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2019 giữa các đương

sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn T B, sinh năm 1983; HKTT: Thôn T S, xã T G, thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đ C, sinh năm 1975; HKTT: Thôn T S, xã T G, thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn T B trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Đ C, sinh năm 1975; HKTT: Thôn T S, xã T G, thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T G vào ngày 04 tháng 3 năm 2002. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do Anh C thường hay rượu chè, đề đóm không quan tâm gì đến gia đình, vợ con; gia đình không hạnh phúc nhiều năm nay. Vợ chồng sống ly thân, chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ khoảng tháng 6 âm lịch năm 2018 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với Anh C và không thể tiếp tục chung sống nên xin ly hôn anh C.

Con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Th M H, sinh ngày 16/12/2002 và cháu Nguyễn Th M N, sinh ngày 22/7/2006; hiện 2 cháu đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết để chị nuôi cả hai cháu. Vấn đề đóng góp phí tổn nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung, công nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn là anh Nguyễn Đ C trình bày:

Anh kết hôn với chị Nguyễn T B, sinh năm 1983; HKTT: Thôn T S, xã T G, thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T G vào ngày 04 tháng 3 năm 2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Anh và chị B sống ly thân từ khoảng hơn một năm trở lại đây, không ai quan tâm đến ai; anh và chị B không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Nay chị B xin ly hôn anh không đồng ý vì anh vẫn còn yêu thương vợ con.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Th M H, sinh ngày 16/12/2002 và cháu Nguyễn Th M N, sinh ngày 22/7/2006; hiện 2 cháu đang ở với chị. Ly hôn chị B đề nghị Tòa án giải quyết để chị nuôi cả hai cháu, không yêu cầu anh phải đóng góp phí tổn nuôi con thì anh đồng ý.

- Về tài sản chung, công nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và tiến hành hòa giải nhưng không thành. Do vậy Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử tại phiên toà công khai. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn T B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến như trình bày ở trên.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn căn cứ Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của nguyên đơn là đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Đ C chưa tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn T B.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Th M H, sinh ngày 16/12/2002 và cháu Nguyễn Th M N, sinh ngày 22/7/2006 cho Chị B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề đóng góp phí tổn không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, bị đơn là anh Nguyễn Đ C, sinh năm 1975; HKTT: Thôn T S, xã T G, thị xã T S, tỉnh Bắc Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Chị Nguyễn T B và anh Nguyễn Đ C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T G vào ngày 04 tháng 3 năm 2002. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do Anh C thường hay rượu chè, lô đề, cờ bạc không quan tâm gì đến gia đình, vợ con; gia đình không hạnh phúc nhiều năm nay. Vợ chồng sống ly thân, chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ khoảng tháng 6 năm 2018 âm lịch cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh C và không thể tiếp tục chung sống nên chị xin ly hôn anh C.

Phía anh Nguyễn Đ C trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Anh và chị B sống ly thân từ khoảng hơn một năm trở lại đây, không ai quan tâm đến ai; anh và chị B không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Nay chị B xin ly hôn anh không đồng ý vì anh vẫn còn yêu thương vợ con.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn T B và anh Nguyễn Đ C đã đến mức trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2018 âm lịch đến nay, không ai quan tâm gì đến nhau và chấm dứt mọi quan hệ, phía anh Nguyễn Đ C xác định anh vẫn còn tình cảm với chị B và vợ chồng vẫn còn tình cảm nhưng anh C không có phương án nào hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, hôn nhân thực tế không tồn tại do hai bên đã sống ly thân, phía chị Nguyễn T B vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh C, nên HĐXX áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình cho chị B được ly hôn với anh C là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Th M H, sinh ngày 16/12/2002 và cháu Nguyễn Th M N, sinh ngày 22/7/2006. Ly hôn chị B xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu cnh C phải đóng góp phí tổn nuôi con, anh C đồng ý với ý kiến của chị B về con chung.

Xét yêu cầu về con chung của chị B, Hội đồng xét xử nhận thấy: Từ khi chị B và anh C ly thân từ tháng 06/2018 âm lịch cho đến nay thì cháu Nguyễn Th M H và Nguyễn Th M N vẫn đang được chị B nuôi dưỡng, chăm sóc. Bên cạnh đó, cả hai cháu H và cháu N đều có nguyện vọng được ở với chị B nếu anh C và chị B ly hôn. Do vậy, nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu H, cháu N trong sinh hoạt và học tập, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị B và giao cháu Nguyễn Th M H, sinh ngày 16/12/2002 và cháu Nguyễn Th M N, sinh ngày 22/7/2006 cho chị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhưng chị B cùng các thành viên gia đình phải tạo điều kiện cho anh C cùng các thành viên gia đình đến thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Tại phiên tòa hôm nay chị B không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng, đóng góp phí tổn nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp.

Về tài sản chung, công nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Do chị Nguyễn T B yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn T B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn T B được ly hôn với anh Nguyễn Đ C.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Th M H, sinh ngày 16/12/2002 và cháu Nguyễn Th M N, sinh ngày 22/7/2006 cho chị Nguyễn T B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Đ C không phải đóng góp phí tổn nuôi con chung. Anh Nguyễn Đ C cùng các thành viên gia đình được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, công nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn T B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0002186 ngày 17/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Chị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đ C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.. N¬i nhËn:

Cỡ chữ