- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh H đối với anh Nguyễn Đình Ch về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST Ngày 01-4-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dƣơng Thanh Quý.
2. Ông Võ Cao Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1218/2018/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh H, sinh năm 1997; Thƣờng trú: Số 18/8 khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình Ch, sinh năm 1989; Thƣờng trú: Số 51/4 ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Tạm trú: Số 18/8 khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
Chị Trần Thị Thanh H có yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Đình Ch vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 23/11/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh H và anh Nguyễn Đình Ch có thời gian tìm hiểu 03 năm thì tổ chức lễ cƣới, đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 120, quyển số 1/2015 ngày 23/10/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại địa chỉ số 18/8 khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Ch làm đá bia mộ, lúc làm lúc nghỉ nên thu nhập không ổn định, chị H mở tiệm làm tóc, cho thuê áo cƣới, thu nhập 5.000.000 đồng/tháng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thƣờng xuyên cãi vả, mâu thuẫn càng trầm trọng khi anh Ch không đi làm mà thƣờng đi uống rƣợu về nhà say xỉn, kiếm chuyện đập phá đồ đạc, đánh đập chị H, anh Ch cũng không chăm lo cho gia đình và chăm sóc con cái; mặc dù chị H đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhƣng không có kết quả. Mâu thuẫn của anh chị hai bên gia đình đều biết và đồng ý với việc anh chị ly hôn. Hiện nay, vợ chồng vẫn sống cùng nhà nhƣng đã ly thân hơn 01 năm nay, anh Ch thƣờng xuyên bỏ đi nhiều ngày, không nói với chị H đi đâu làm gì. Nay chị Trần Thị Thanh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Đình Ch.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Trần Đình N, sinh ngày 17/10/2016, hiện nay con đang sống chung với vợ chồng anh chị. Sau khi ly hôn, chị Trần Thị Thanh H yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Đình Ch cấp dƣỡng nuôi con. Chị H có tiệm làm tóc, cho thuê áo cƣới tại nhà, thu nhập ổn định, ngoài ra chị cho con đi học tại trƣờng mẫu giáo trong thời gian chị làm việc để con đƣợc chăm sóc, nuôi dạy.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Đình Ch đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh Nguyễn Đình Ch không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngày 28/12/2018, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Trần Thị Thanh H và anh Nguyễn Đình Ch tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Chị Trần Thị Thanh H và anh Nguyễn Đình Ch là vợ chồng, cùng chung sống tại số 18/8 khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Từ khi vợ chồng sống tại đây, địa phƣơng không nghe trình báo gì về mâu thuẫn giữa hai anh chị. Tuy nhiên, đƣợc ngƣời dân xung quanh phản ánh về việc anh Ch thƣờng xuyên nhậu say về quậy phá, đập phá nhà cửa, đánh chửi chị H. Mặc dù còn sinh sống tại đó nhƣng anh Ch rất ít khi về nhà mà thƣờng xuyên bỏ đi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án: nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh H.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cháu Nguyễn Trần Đình N, sinh ngày 17/10/2016 cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dƣỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu anh Nguyễn Đình Ch cấp dƣỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 12/3/2019 và ngày 01/4/2019 nhƣng bị đơn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh H và anh Nguyễn Đình Ch tìm hiểu nhau 3 năm thì tổ chức đám cƣới, đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 120, quyển số 01/2015 ngày 23/10/2015 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, chị Trần Thị Thanh H cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống trong nhiều vấn đề nên thƣờng xuyên cãi nhau. Từ đầu năm 2017, mâu thuẫn càng trầm trọng do anh Ch không đi làm mà thƣờng ra ngoài uống rƣợu say về đập phá nhà cửa, đánh đập chị, anh Ch cũng không quan tâm chăm sóc gia đình và con nhỏ. Điều này là phù hợp với nội dung biên bản xác minh tại địa phƣơng ngày 28/12/2018 của Tòa án. Hơn 01 năm nay, anh Ch không thƣờng xuyên ở nhà cùng vợ con, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau và cũng không cùng nhau chăm lo cho gia đình và con cái.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Đình Ch đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Nguyễn Đình Ch không có mặt, chị Trần Thị Thanh H cũng có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải với anh Nguyễn Đình Ch. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh chị đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh Nguyễn Đình Ch bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị Trần Thị Thanh H cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị Trần Thị Thanh H và anh Nguyễn Đình Ch đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu đƣợc ly hôn của chị Trần Thị Thanh H.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trần Đình N, sinh ngày 17/10/2016.
Xét, trong suốt quá trình tố tụng, anh Ch vắng mặt nên không có ý kiến về việc nuôi con chung. Hiện nay cháu N đang ở cùng với anh Ch chị H, tuy nhiên, do anh Ch thƣờng xuyên vắng mặt nên chỉ có chị H là ngƣời trực tiếp chăm sóc nuôi dạy con, gửi con đi học. Với công việc là thợ làm tóc và cho thuê áo cƣới tại nhà, thu nhập ổn định 5.000.000 đồng/tháng, chị H có điều kiện để chăm lo cho con. Bên cạnh đó, cháu N chƣa đủ 36 tháng tuổi, còn rất nhỏ nên cần sự chăm sóc trực tiếp của ngƣời mẹ. Xét thấy, khi giải quyết ly hôn, việc giao con cho cha hay mẹ nuôi thì phải đảm bảo đƣợc sự phát triển toàn diện về mọi mặt cho đứa trẻ. Từ những nhận định trên, căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con…”, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị H về việc đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung cháu Nguyễn Trần Đình N. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Ch cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thanh H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh H đối với anh Nguyễn Đình Ch về việc ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh H đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Đình Ch.
- Về con chung: Buộc anh Nguyễn Đình Ch giao con chung tên Nguyễn Trần Đình N, sinh ngày 17/10/2016 cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu anh Nguyễn Đình Ch cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, chị Trần Thị Thanh H và anh Nguyễn Đình Ch đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Nguyễn Đình Ch lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Trần Thị Thanh H nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0027776, ngày 06/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Trần Thị Thanh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - UBND xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; - Đƣơng sự; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Mỹ Dung |