vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh T.

Về hôn N: chị Phạm Thị Thanh T được ly hôn anh Phạm Minh T. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Viết Thiện N, sinh ngày 18/02/2019 cho chị Phạm Thị Thanh T là người được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu N thành niên và tự lập …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thảo-Trí"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN N DÂN
HUYỆN PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16/9/2019
V/v: “Ly hôn và nuôi con chung”

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN HUYỆN PT, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Ruyệt.

Các Hội thẩm N dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Cán bộ Tòa án N dân huyện PT, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện PT tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án N dân huyện PT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2019/TLST-HN&GĐ ngày 07/5/2019; về yêu cầu Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2019/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh T, sinh năm: 1999;

Địa chỉ: thôn Tt, xã I, huyện PT, Gia Lai(có mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Minh T, sinh năm: 1995;

Địa chỉ: thôn Tt, xã Ia P, huyện PT, Gia Lai(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2019, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T trình bày:

Về hôn N: Tôi và anh T kết hôn vào ngày 16/7/2018, tại Ủy ban N dân xã I, huyện PT, tỉnh Gia Lai; việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc, cuộc sống chung của vợ chồng không được hạnh phúc, lý do là trong thời gian chung sống tôi và mẹ chồng có xảy ra mâu thuẫn, đến gần ngày sinh con thì mâu thuẫn càng trầm trọng hơn, còn bản thân anh T thì không quan tâm đến tôi và con, khi con nhỏ khát sữa khóc thì anh T không động viên cùng tôi giỗ dành con, mà lại tỏ ra khó chịu trách móc không biết nuôi dạy con, rồi nghe mẹ tự ý bỏ đi làm xa khi tôi mới sinh con được 12ngày tuổi, vì thiếu sự quan tâm của chồng và gia đình chồng, nên tôi phải về nhà bố mẹ đẻ ở trong thời kỳ sinh con nhỏ, trong thời gian ở nhà bố mẹ tôi ở đến nay, thì gia đình nhà chồng cũng như anh T hầu như không quan tâm thăm hỏi gì; về quan điểm sống giữa tôi và anh T thường trái ngược nhau, anh T quá nghe mẹ đẻ không có chính kiến của một người chồng người cha, tôi phải bế con nhỏ về nhà bố mẹ đẻ ở; bản thân tôi vẫn bị áp lực từ gia đình nhà chồng và anh T, tôi đã khuyên nhủ anh T nhiều lần, nhưng anh T không có bản lĩnh và không có trách nhiệm đến vợ con, tôi cố gắng chịu đựng nhưng không thể khắc phục được, bản thân tôi không thể chịu đựng được nữa, chính vì vậy mà vợ chồng đã sống ly thân nhau sau khi sinh con 12ngày tuổi đến nay, hiện nay tôi không còn tình cảm yêu thương anh T nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài; vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T.

Về con chung: Tôi và anh T có 01con chung, tên Phạm Viết Thiện N, sinh ngày 18/02/2019, nếu được ly hôn tôi xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn: Tôi tự nguyện chịu án phí theo quy định.

Đối với bị đơn anh Phạm Minh T: Quá trình Thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh T không lên làm việc, không có mặt, không khai báo, nên Tòa án phải đi xác minh và lập các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải...Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, tại địa chỉ và nơi ở của anh T cho người nhận văn bản tố tụng là người thân thích của anh T (dượng anh T) theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh T vẫn không tham gia tố tụng, không hợp tác cùng Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát N dân huyện PT, tỉnh Gia Lai phát biểu quan điểm về tố tụng:

Căn cứ vào khoản 4 điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát;

Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 170; 195; 203; 205; 220; 227; 233; 235 và 262 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57 và Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn N và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Đieàu 27 của Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về aùn phí, leä phí Toaø aùn.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm

phán đã thực hiện đầy đủ, từ khâu thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận và hòa giải, các bước tống đạt quy trình tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định, đúng thẩm quyền giải quyết, thời gian giải quyết vụ án đảm bảo, giải quyết theo yêu cầu nội dung khởi kiện; Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ trình tự các bước của phiên tòa dân sự sơ thẩm.

Về nội dung: Quan hệ về tranh chấp Ly hôn - nuôi con chung là đúng, đề nghị

Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn để giải quyết ly hôn của chị Phạm Thị Thanh T với anh Phạm Minh T.

Về con chung: Hội đồng xét xử nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T, vì bản thân cháu N còn nhỏ mới được mấy tháng tuổi, hơn nữa chị T là người nuôi dưỡng từ nhỏ, giao cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.

Về tài sản chung nợ chung: Không xem xét do đương sự không có yêu cầu.

Về án phí: chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra

tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không đến làm việc, không hợp tác cùng Tòa án để ký nhận văn bản hòa giải hoặc bản khai khi Tòa án làm việc, không viết bản tự khai và cũng không có ý kiến phản hồi gì bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, nên phải hoãn phiên tòa; mở phiên toà xét xử lần thứ hai theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn N: chị Phạm Thị Thanh T với anh Phạm Minh T kết hôn trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban N dân xã Ia Piar, huyện PT, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/ 7/ 2018; quan hệ hôn N của chị T và anh T là hợp pháp.

Quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa chị T và anh T luôn xảy ra (theo biên bản xác minh và chị T khai), vợ chồng hay bất đồng quan điểm, anh T hay gây áp lực với chị T, anh T không có trách nhiệm với gia đình, chị T và anh T đã sống ly thân nhau sau khi sinh con 12 ngày tuổi đến nay, tình cảm giữa chị T và anh T không còn. Hội đồng xét xử, xét cuộc sống vợ chồng chị T và anh T không có ý thức hỗ trợ chia sẻ nhau trong công việc, tình cảm giữa chị T và anh T đã thực sự rạn nứt, mục đích hôn N không đạt, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; mặc dù anh T không tham gia tố tụng, không hợp tác cùng Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; việc chị T khai là hoàn toàn có cơ sở bởi lẽ việc quan tâm về tình cảm của vợ chồng phải diễn ra liên tục và thường xuyên, nhưng đối với anh T và chị T đã ly thân nhau, chứng tỏ họ không còn quan tâm đến cuộc sống chung của gia đình, đồng thời trách nhiệm của người chồng người cha đối với gia đình là không còn, anh T để mặc cho chị T tự lo toan cuộc sống để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung còn nhỏ dại trong thời gian ly thân; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và anh T là có cơ sở.

[3] Về con chung: chị T và anh T có 01 con chung tên Phạm Viết Thiện

N, sinh ngày 18/02/2019; xét chị T là người trực tiếp nuôi con từ nhỏ đến nay, hơn nữa cháu N mới được mấy tháng tuổi, việc chăm sóc nuôi dưỡng từ nguồn sữa của mẹ là rất quan trọng của trẻ thơ, nên cần sự quan tâm giáo dục của người mẹ để theo dõi thường xuyên đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con trẻ; Hội đồng xét xử, xét giao con chung cho chị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị T không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến; nếu sau này chị T có yêu cầu, thì sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: chị T không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét để giải quyết.

[5] Về án phí: chị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 170; 195; 203; 205; 220; 227; 233; 235 và 262 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57 và Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn N và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Đieàu 27 của Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về aùn phí, leä phí Toaø aùn.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thanh T.

Về hôn N: chị Phạm Thị Thanh T được ly hôn anh Phạm Minh T.

Về con chung: Giao con chung tên Phạm Viết Thiện N, sinh ngày 18/02/2019 cho chị Phạm Thị Thanh T là người được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu N thành niên và tự lập được hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi mình; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và áp dụng việc cấp dưỡng nuôi con chung; anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này.

Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con; người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về án phí: chị Phạm Thị Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0006304 ngày 07/5/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh Gia Lai; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/9/2019) các đương sự có quyền kháng cáo bản án; riêng anh T vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban N dân xã phường nơi cư trú, lên Tòa án N dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ