vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị N;

Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Trương Văn D. Về con chung: Giao cháu Trương Nguyễn Thiên A, sinh ngày 24/01/2012 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Trương Văn D"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị N;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST
Ngày 09/7/2019
“ V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Tha

Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hà và ông Nguyễn Văn Mạnh

Thư ký ghi phiên toà: Bà Đinh Thị Thảo–Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắktham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Thắng– Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 7 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2018/TLST – HNGĐ ngày 11/12/2018 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994 – Có mặt

Địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

Bị đơn: Anh Trương Văn D, sinh năm 1988 – Vắng mặt

Địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày:

Tôi và anh Trương Văn D kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 08/3/2012 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Qúa trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc, nguyên nhân là do anh D thường xuyên rượu chè, cờ bạc, bán hết tài sản có giá trị của gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Anh D thường xuyên bỏ nhà đi, không quan tâm, chăm sóc cho vợ con. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trương Văn D.

Về con chung: Giữa tôi và anh D có 01 con chung là Trương Nguyễn Thiên A, sinh ngày 24/01/2012. Nguyện vọng của tôi được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Trương Văn D đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp và hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án;

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Chị N được ly hôn anh D.

Về con chung: Giao cháu Trương Nguyễn Thiên A, sinh ngày 24/01/2012 cho chị Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp về hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn Trương Văn D vẫn vắng mặt không có lý donên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08/3/2012 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị N và anh D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D thường xuyên rượu chè, cờ bạc, không lo làm ăn, chăm sóc gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016. Chính quyền địa phương đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Tình trạng mâu thuẫn giữa chị N và anh D không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, nếu anh D là người có trách nhiệm chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình thì mâu thuẫn sẽ được khắc phục kịp thời, nhưng anh D lại thờ ơ bỏ mặc làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; vì vậy việc chị N xin ly hôn đối với anh D là có căn cứ cần chấp nhận.

Về con chung: Chị N và anh D có 01 con chung là Trương Nguyễn Thiên A, sinh ngày 24/01/2012. Trong quá trình giải quyết vụ án anh D không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập. Do vậy, Tòa án không ghi nhận được lời khai của anh D về nguyện vọng nuôi con. Xét yêu cầu của đương sự cũng như điều kiện để chăm sóc con chung thì chị N có điều kiện chăm sóc con tốt hơn; vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N được miễn nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm do thuộc hộ nghèo được chính quyền địa phương xác nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1Điều 12Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị N;

Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Trương Văn D.

Về con chung: Giao cháu Trương Nguyễn Thiên A, sinh ngày 24/01/2012 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

Anh Trương Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N được miễn nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và được nhận lại số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0006916 ngày 05/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CưM’gar.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ