vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L đối với ông T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông T. Về con chung: Bà L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên N, sinh ngày 11/11/2007. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà L yêu cầu ly hôn với ông Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L đối với ông T.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25-6-2019
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Huế.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Tình;

2. Ông Bồ Quốc Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà L, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ 6, ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh C; có mặt.

2. Bị đơn: Ông T, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: Tổ 6, ấp 3, xã A, huyện B, tỉnh C; chỗ ở hiện nay: Ấp 2, xã A, huyện B, tỉnh C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 3 năm 2019, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà L trình bày:

Bà L và ông T tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau khoảng một năm. Năm 2006, được sự đồng ý của hai bên gia đình, bà L với ông T tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện g (nay là B), tỉnh D theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37 ngày 15/6/2007. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ bà L tại ấp 3, xã A, huyện B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T thường xuyên chơi đánh bạc, gây nợ nần, không quan tâm đến vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng lên đỉnh điểm vào khoảng tháng 7/2018 dẫn đến ông T bỏ về nhà mẹ đẻ tại ấp 2, xã A sinh sống. Vợ chồng bà L sống ly thân từ đó. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên N, sinh ngày 11/11/2007. Bà L yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ đến Tòa án lấy lời khai, làm việc nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liê êu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luâ ên tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hô êi đồng xét xử nhâ ên định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà L nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông T. Ông T có hộ khẩu thường trú và cư trú tại huyện B, tỉnh C nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mă ăt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T quen biết, tìm hiểu nhau, tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện G (nay là B), tỉnh C theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37 ngày 15/6/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng: Bà L xin ly hôn với ông T vì cho rằng ông T ham mê cơ bạc, không lo lắng cho vợ con, do mâu thuẫn nên ông T quay về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 7/2018 đến nay. Ông T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà L xin ly hôn và giấy triệu tập đến Toà án để làm việc nhưng ông T không đến Toà án và cũng không có văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này thể hiện ông T cũng không quan tâm, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng và nuôi dạy con cái.

Kết quả xác minh ngày 24/4/2019 về tình trạng hôn nhân của bà L với ông T tại Hội liên hiệp phụ nữ xã A cho thấy, ông T và bà L phát sinh mâu thuẫn và đã không còn chung sống khoảng 01 năm. Từ khi ly thân thì bà L là người chăm sóc con cái, ông T không quan tâm, chăm sóc vợ con.

Qua đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống hôn nhân không có trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L xin ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên N, sinh ngày 11/11/2007. Bà L yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung. Từ khi vợ chồng ly thân, bà L là người trực tiếp nuôi con; Bản tự khai ngày 16/4/2019, cháu N có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N là có căn cứ chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà L phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L đối với ông T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên N, sinh ngày 11/11/2007. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Bà L và ông T đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể giải quyết việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/ 0030501 ngày 01/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bồ Quốc Khánh Nguyễn Trọng Tình

Lê Thị Bích Huế

Cỡ chữ