vanban.org

Bản án 17/2019/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 19/06/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Kh ng chấp nhận háng cáo của Chị Phạ Thị Thanh H và háng cáo của Anh Nguyễn Quang C. Gi nguyên án sơ th và quyết định s a ch a bổ sung bản án sơ th số 02/2018/QĐ-SCBA ngày 29-11-2018 của T a án nh n d n huyện Vụ Bản, t nh Na Định.

Về h n nh n: X cho ly h n gi a Chị Phạ Thị Thanh H và Anh Nguyễn Quang C. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hương Q, sinh ngày 15-02-2009 cho Chị Phạ Thị Thanh H nu i dưỡng cho đến hi cháu Q trưởng thành, có hả năng lao động tự lập được. Giao cháu Nguyễn Quang L, sinh ngày 27-6-2003 cho Anh Nguyễn Quan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án PT-HNGĐ H-C"
  • Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận háng cáo của Chị Phạ Thị Thanh H và háng cáo của Anh Nguyễn Quang C. Gi nguyên án sơ th và quyết định s a ch a bổ sung bản án sơ th số 02/2018/QĐ-SCBA ngày 29-11-2018 của T a án nh n d n huyện Vụ Bản, t nh Na Định.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2019/HNGĐ-PT
Ngày 19-6-2019
V/v Ly hôn, nuôi con chung và
tranh chấp tài sản chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Th nh h n i n

h h

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tiến Dũng

Ông Lại Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư T a án nh n d n t nh Na Định.

- Đại diện Viện kiể sá nhân dân ỉnh Na Định ha ia hiên o : Ông Trần Mạnh Trường - Kiể sát viên.

Ngày 19 tháng 6 nă 2019 tại trụ sở Toà án nh n d n t nh Na Định t

phúc th c ng hai vụ án H n nh n và gia đình thụ l số 14/2019/TLPT-HNGĐ-PT ngày 14-02-2019 về Ly hôn, nuôi con chung và tranh chấp tài sản chung.

Do bản án H n nh n và gia đình sơ th số 17/2018/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 11 nă 2018 của T a án nh n d n huyện Vụ Bản, t nh Na Định bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra t số 24/2019/QĐ-PT ngày 01 tháng 3 nă 2019 gi a các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạ Thị Thanh H, sinh nă 1979; địa ch : Thôn B, xã Q, huyện V, t nh Na Định.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang C, sinh nă 1974; địa ch : Thôn B, xã Q, huyện V, t nh Na Định.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Anh Nguyễn Quang C:

Luật sư Vũ Mạnh H và Luật sư Phạ Văn Thuận thuộc C ng ty luật trách nhiệ h u hạn D - Đoàn luật sư Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. NLQ1, sinh nă 1963; địa ch : Th n B, ã C, huyện V, t nh Na Định.

2. NLQ2, sinh nă 1965; địa ch : Th n G (B I), ã Q, huyện V, t nh Na Định.

3. NLQ3, sinh nă 1971; địa ch : Th n G (B I), ã Q, huyện V, t nh Na Định.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn: Chị Phạ Thị Thanh H; bị đơn: Anh Nguyễn Quang C.

Tại phiên t a phúc th : Chị H, Anh C, luật sư T, luật sư H, NLQ1, NLQ2 có ặt. Vắng ặt NLQ3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn đề nghị ngày 08-5-2017, 09-6-2017, 11-6-2017 và quá trình tố tụng tại T a án nguyên đơn là Chị Phạ Thị Thanh H trình bày:

Về quan hệ h n nh n: Qua tì hiểu chị và Anh Nguyễn Quang C đã tự nguyện đăng

ết h n ngày 10-02-2003 tại Uỷ ban nh n d n (UBND) xã Quang Trung, huyện Vụ Bản, t nh Na Định. Ngay trong buổi tối ngày h cưới vợ, chồng đã ảy ra xô xát, nguyên nhân do tính tình h ng hợp, bất đồng quan điể . Thời gian gần đ y, Anh C có quan hệ tình cả bất chính với người phụ n hác, nên cuộc sống vợ chồng hay ảy ra

át, đánh, cãi, ch i nhau dẫn đến vợ chồng h ng có tình cả và cuộc sống h ng có hạnh phúc, rất nhiều lần Anh C đánh đập chị, chị phải bỏ về nhà ẹ đẻ ở, sau đó lại về đoàn tụ nhưng tình cả vợ chồng h ng được cải thiện. Tháng 8 nă 2016 vợ chồng át ngoài việc dùng tay, ch n đánh đập thì Anh C c n cầ dao định ch chị, chị bỏ chạy sang nhà ẹ đẻ nhưng Anh C tiếp tục đuổi đánh chị. Tại nhà ẹ đẻ, Anh C lấy áy tập thể dục ném vào người chị. Sau lần

át đó, chị h ng quay về với Anh C n a, mà ở lu n nhà ẹ đẻ và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Ngày 05-5-2017 Anh C là đơn in ly h n với chị, nhưng h ng đề nghị Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng, nên ngày 08-5-2017 chị nộp đơn yêu cầu T a án giải quyết tài sản chung của vợ chồng. Sau khi, T a án thụ l yêu cầu chia tài sản chung, thì ngày 12-6-2017 Anh C có đơn in rút toàn bộ các yêu cầu hởi iện và T a án đã đình ch giải quyết. Do u thuẫn vợ chồng đã trầ trọng, nên chị có đơn đề nghị T a án tiếp tục giải quyết vụ án và thay đổi địa vị tố tụng chị là nguyên đơn, c n Anh C là bị đơn. Nay chị ác định tình cả vợ chồng h ng c n, h ng thể đoàn tụ được, đề nghị T a án giải quyết cho chị được ly h n Anh C.

Về con chung: Chị và Anh C có 02 con chung là Nguyễn Quang L, sinh ngày 27-6-2003 và Nguyễn Hương Q, sinh ngày 15-02-2009, hiện cháu Q đang ở với chị, c n cháu L đang ở với Anh C. Vợ chồng ly h n chị đề nghị được nu i dưỡng cháu Q còn anh Chiều nu i dưỡng cháu L, h ng bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Về tài sản chung: Chị và Anh C có hối tài sản chung gồ :

- 01 th a đất số 206, tờ bản đồ số 2, diện tích 100 2 tại: Thôn B, xã Q, huyện V, t nh Na Định; đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 ngày 27-12-2005 mang tên Anh Nguyễn Quang C và chị. Các công trình y dựng trên th a đất 206 gồ : 01 nhà ở 2 tầng, diện tích hoảng 70 2; 01 c ng trình phụ ái bằng (gồ bếp, nhà tắ , nhà vệ sinh), diện tích hoảng 20m2; 01 gian buồng lợp pro i ang, diện tích hoảng 5 2; 01 bán ái lợp pro i ang, diện tích hoảng 15 2; 01 lán hoảng 10 2. Nguồn gốc th a đất 206, ng i nhà 2 tầng và dãy c ng trình phụ là của Anh C, có trước hi ết h n. Sau ết h n, vợ chồng y dựng thê các c ng trình gồ : 01 gian buồng lợp pro i ang, 01 bán ái lợp pro i ang, 01 lán ở phía trước c a ng i nhà 2 tầng và cầu thang bằng gỗ của ng i nhà 2 tầng. Mặc dù, th a đất 206, ng i nhà 2 tầng và dãy c ng trình phụ là tài sản riêng của Anh C nhưng sau hi ết h n Anh C đã tự nguyện nhập toàn bộ các tài sản đó vào tài sản chung của vợ chồng, được thể hiện tại giấy chứng nhận quyền s dụng đất. Quá trình chung sống vợ chồng h ng có lời nói hay văn bản thỏa thuận th a đất 206 và các tài sản trên đất là tài sản riêng của Anh C.

- 01 l đất số A45, diện tích 100 2 tại: Khu d n cư phía Na đường vành đai, phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình, t nh Ninh Bình, đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số BE 495281 ngày 15-7-2011 mang tên Anh C và chị.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị có đơn in rút ột phần yêu cầu chia tài sản chung gồ : Số tiền 350.000.000đ Anh C đứng tên g i tiết iệ tại Ngân hàng N ng nghiệp và phát triển n ng th n huyện Vụ Bản - Chi nhánh Chợ Dần; 01 e t nhãn hiệu Honda loại xe Lead; 01 e t nhãn hiệu Honda xe loại Drea ; 01 e

t nhãn hiệu Ya aha loại xe NovoLX; 01 tủ lạnh Hitachi; 01 áy giặt Panasonic; 01 áy điều h a Panasonic; 01 áy cắt nh ; 01 áy hàn xì và chị ch c n yêu cầu T a án giải quyết chia các tài sản chung của vợ, chồng gồ : th a đất số 206, cùng toàn bộ các c ng trình y dựng trên đất và l đất số A45.

Chị đề nghị chia th a đất 206 cùng toàn bộ các c ng trình y dựng trên đất cho Anh C phần nhiều hơn và giao Anh C quản l , s dụng, nhưng Anh C phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho chị. L đất số A45 chia đ i ỗi người ột n a và chị in được quản l , s dụng.

Về c ng nợ chung của vợ chồng: Không có nên h ng yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản lấy lời hai và quá trình tố tụng tại T a án bị đơn là Anh Nguyễn Quang C trình bày:

Về quan hệ h n nh n: Anh và chị H tự nguyện ết h n với nhau vào ngày 10-02-2003, có đăng

ết h n tại UBND xã Q. Sau ết h n anh và chị H chung sống h a thuận hạnh phúc được hoảng 03 nă thì phát sinh u thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình h ng hợp và bất đồng quan điể nên thường ảy ra

át, cãi, ch i nhau, cứ ỗi lần vợ chồng

át thì chị H bỏ về nhà ẹ đẻ hoặc là ra Trạ á xã Q ở, sau đó lại về đoàn tụ nhưng tình cả vợ chồng cũng h ng được cải thiện. Lần cuối chị H bỏ nhà đi vào hoảng tháng 8 nă 2016 và vợ chồng sống ly th n đến nay. Anh ác định tình cả vợ chồng h ng c n, nhưng vẫn ong uốn đoàn tụ để cho con cái có cả bố, lẫn ẹ nên anh h ng nhất trí ly h n với chị H.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang L, sinh ngày 27-6-2003 và cháu Nguyễn Hương Q, sinh ngày 15-02-2009. Nếu vợ chồng ly h n thì anh h ng nhất trí chia con, anh in được nu i cả 02 con chung và yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nu i con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung của vợ chồng: Anh và chị H có l đất số A45 ở hu d n cư phía Na đường vành đai, phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình, t nh Ninh Bình là tài sản chung của vợ chồng, nhưng anh h ng nhất trí chia à để lại cho 02 con.

Về tài sản riêng: Th a đất 206 cùng toàn bộ các c ng trình y dựng trên đất là tài sản riêng của anh có trước hi ết h n. Nguồn gốc là của bố anh ua của ng Vũ Xu n T nă 1998, nhưng NLQ1à người giao dịch việc ua bán và NLQ1à người đứng tên trên các giấy tờ. Khi ua đất bố anh có họp gia đình và thống nhất giao cho anh đứng tên trên giấy tờ của th a đất, để anh y dựng nhà thờ là chỗ cho anh e đi về, nên anh đã là các thủ tục chuyển nhượng th a đất từ tên ng Thới sang tên anh. Nă 2002 anh y dựng nhà ở và các c ng trình trên đất.

Nă 2003 anh ết h n với chị H, nă 2005 anh đến các cơ quan Nhà nước có th quyền, là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất 206, chính quyền địa phương giải thích cứ đưa tên chị H vào giấy chứng nhận quyền s dụng đất, cũng h ng ảnh hưởng đến quyền lợi của anh, nên anh ê hai cả tên chị H và được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất, nhưng anh h ng để việc giấy chứng nhận có cả tên chị H, ch hi vợ chồng ảy ra u thuẫn, anh iể tra ới biết trong giấy chứng nhận có tên chị H là chủ s dụng đất. Việc chị H có tên trong giấy chứng nhận quyền s dụng đất thì gi a anh và chị H h ng có sự thỏa thuận gì, anh ác định toàn bộ các c ng trình y dựng trên th a đất 206, đều do anh y dựng nă 2002, vợ chồng h ng y dựng ới hay s a ch a bất cứ c ng trình nào trên đất. Vì vậy, ly hôn chị H h ng có quyền lợi gì.

Quá trình giải quyết vụ án chị H rút yêu cầu chia các tài sản chung của vợ chồng gồ : Số tiền 350.000.000đ Anh C đứng tên g i tiết iệ tại Ngân hàng N ng nghiệp và phát triển n ng th n huyện Vụ Bản - Chi nhánh Chợ Dần; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Lead; 01 e

t nhãn hiệu Honda loại xe Drea ; 01 e

t nhãn hiệu Ya aha loại xe NovoLX; 01 tủ lạnh Hitachi; 01 áy giặt Panasonic; 01 áy điều h a Panasonic; 01 áy cắt nh ; 01 áy hàn xì. Anh h ng có iến gì.

Ngoài ra, quá trình chu n bị t Anh C có đơn yêu cầu T a án hủy giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 do UBND huyện V cấp ngày 27-12-2005 lý do giấy chứng nhận có cả tên chị H là chủ s dụng đất và công nhận th a đất 206 là tài sản riêng của anh. Sau hi, e

t đơn yêu cầu của Anh C, T a án th ng báo yêu cầu Anh C s a đổi, bổ sung đơn hởi iện theo đúng quy định tại hoản 1 Điều 118 của Bộ luật tố tụng Hành chính, nhưng Anh C không s a đổi, bổ sung đơn hởi iện. T a án trả lại đơn hởi iện cho Anh C. Sau đó, Anh C có đơn đề nghị UBND huyện V thu hồi giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 cấp ngày 27-12-2005 do giấy chứng nhận có cả tên của chị H là người s dụng đất và cấp lại giấy chứng nhận quyền s dụng đất th a đất 206 đứng tên Anh C. Tại văn bản trả lời đơn thư c ng d n số 319/UBND-TNMT ngày 04-7-2018 của UBND huyện V đã ết luận việc cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 ngày 27-12-2005 cho th a đất 206 là đúng quy định pháp luật, nên yêu cầu đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền s dụng đất đứng tên mình Anh C là h ng có cơ sở.

Về c ng nợ: Anh và chị H có hoản nợ chung là số tiền anh vay của NLQ1 và vay của vợ chồng NLQ2 ỗi người 100.000.000đ, để ua l đất số A45. Khi vay tiền, anh với NLQ1 và NLQ2 có viết giấy biên nhận, chị H h ng giấy biên nhận, nhưng chị H có biết việc anh vay tiền để ua đất, hi NLQ1 và NLQ2 đưa tiền cho anh thì chị H cũng ngồi ở đó chứng iến. L do chị H không

giấy biên nhận là hi ua l đất số A45, anh hỏi chị H có tiền h ng, thì chị H nói không có, nên anh tự đi vay. Anh ác định hoản tiền vay của NLQ1 và vay của vợ chồng NLQ2 là nợ chung của vợ chồng, nên chị H phải có trách nhiệ cùng anh trả nợ.

* Tại bản tự hai ngày 19-12-2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NLQ1 trình bày: Nă 2011 Anh C ua 01 th a đất ở thành phố Ninh Bình với giá là 395.000.000đ do không đủ tiền, Anh C phải đi vay ượn của các anh, chị, e nên gia đình anh thống nhất cho Anh C vay 100.000.000đ và ngày 28-6-2011 anh giao tiền cho Anh C vay tại gia đình Anh C, có sự chứng iến của NLQ2, nhưng chị H h ng ở nhà. Nay chị H và Anh C ly h n anh yêu cầu Anh C và chị H trả cho anh 100.000.000đ à Anh C đã vay. Số tiền Anh C vay là tiền của cá nh n anh, vợ, con anh không liên quan gì, nên anh đề nghị T a án h ng đưa vợ, con anh vào tha gia tố tụng trong vụ án.

* Tại bản tự hai ngày 19-12-2017, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NLQ2 trình bày: Ngày 28-6-2011, Anh C đến nhà anh, vay của vợ chồng anh 100.000.000đ, có sự chứng iến của vợ NLQ1à NLQ3 và NLQ1 dùng vào việc ua đất. Khi cho vay tiền, anh yêu cầu phải có cả chị H, nhưng Anh C nói chị H bảo chị ấy h ng có tiền, ệ Anh C vay đ u thì vay, vì vậy anh ới h ng cần chị H phải có ặt. Do Anh C vay để ua đất ở thành phố Ninh Bình, anh đã thu ếp cho Anh C vay tiền ngay trong cùng ngày. Anh đề nghị T a án buộc Anh C và chị H cùng có trách nhiệ trả cho anh 100.000.000đ, vì Anh C vay để ua đất là tài sản chung của Anh C và chị H.

* Tại biên bản lấy lời hai ngày 07-9-2017 và ngày 10-11-2017, cháu Q và cháu L trình bày: Nếu bố, ẹ ly h n với nhau thì cháu Q có nguyện vọng được ở với chị H, còn cháu L có nguyện vọng được ở Anh C.

* Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 09-8-2017, Uỷ ban nh n d n ã Quang Trung cung cấp: Về quan hệ h n nh n: Chị H và Anh C có đăng

ết h n tại UBND xã Q ngày 10-02-2003. Trong quá trình chung sống Anh C và chị H ảy ra nhiều u thuẫn. Nguyên nh n là do tính tình gi a chị H và Anh C h ng hợp nhau, dẫn đến cuộc sống chung có nhiều bất đồng. Chị H và Anh C đã sống ly th n từ tháng 8-2016 đến nay.

Về con chung: Chị H và Anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang L, sinh ngày 27-6-2003 và cháu Nguyễn Hương Q, sinh ngày 15-02-2009.

Về nghề nghiệp của chị H và Anh C: Sau ết h n Anh C và chị H có ở c a hàng bán tạp hóa tại th a đất số 206 và sau đó ột thời gian thì chuyển sang ở c a hàng nh , ính do Anh C quản l . Nghề chính của Anh C hiện nay là là nghề nh , ính, thu nhập bình qu n hoảng 15.000.000đ/tháng, c n nghề chính của chị H hiện nay là là y tá tại Trạ y tế của ã Quang Trung, thu nhập hoảng 5.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung: Chị H và Anh C đang đứng tên chủ s dụng đất th a đất 206, tờ bản đồ số 2, diện tích 100 2, địa ch th a đất: Th n B, ã Q, huyện V, t nh Na Định cùng các c ng trình y dựng trên th a đất gồ : 01 nhà 2 tầng; 01 dãy c ng trình phụ ái bằng (gồ bếp, nhà tắ , nhà vệ sinh); 01 gian buồng nhỏ bán ái lợp pro i ang; 01 bán ái lợp pro i ang; 01 lán lợp t n và đồ dùng sinh hoạt trong gia đình.

Về c ng nợ: Chị H và Anh C h ng có nợ tập thể và h ng nghe thấy có nợ cá nh n nào hoản gì. Chị H in ly h n với Anh C đề nghị T a án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 09-8-2017, Chi nhánh văn ph ng đăng đất đai huyện Vụ Bản cung cấp: Tháng 11-2005, Chi nhánh văn ph ng đăng đất đai huyện Vụ Bản nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền s dụng cho th a đất số 206, tờ bản đồ số 2, diện tích 100 2, địa ch th a đất: Th n B, ã Q, huyện V, t nh Na Định của hộ Anh C và chị H. Qua iể tra tính pháp l của hồ sơ thấy đã hợp pháp và có đủ điều iện để cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất, nên Chi nhánh đã trình UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất số 206 và ngày 27-12-2005 UBND huyện V đã cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE212354 cho th a đất số 206, ang tên người s dụng đất là Nguyễn Quang Chiểu và Phạ Thị Thanh Hương. Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất và quy trình cấp giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất số 206 là đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.

* Tại biên bản th định và định giá tài sản ngày 18-8-2017, Hội đồng định giá tài sản đã định giá đất tại th a 206 là 11.000.000đ/ 2. Và định giá các công trình xây dựng trên th a đất số 206 gồ : Nhà ở 2 tầng, trị giá là 121.710.000đ; Nhà bếp + c ng trình phụ h p ín (Nhà tắ + nhà vệ sinh), trị giá là 5.000.000đ. Lán trước c a nhà, trị giá 2.475.000đ. Bán ái sau nhà ở, trị giá là 11.868.000đ. Buồng, trị giá là 4.828.000đ.

* Tại biên bản định giá tài sản ngày 12-10-2017, Hội đồng định giá tài sản đã định giá l đất số A45, diện tích 100 2 là 3.000.000đ/ 2.

Tại bản án d n sự sơ th số 17/2018/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 11 nă 2018 của T a án huyện Vụ bản, t nh Na Định và tại quyết định s a ch a bổ sung bản án sơ th số 02/2018/QĐ-SCBA ngày 29-11-2018 đã quyết định.

X cho ly h n gi a Chị Phạ Thị Thanh H và Anh Nguyễn Quang C.

Về chia tài sản: Chia cho Anh C được quyền quản l , s dụng th a đất số 206, tờ bản đồ số 2, diện tích 100 m2; địa ch của th a đất: Th n B, ã Q, huyện V, t nh Na Định; đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 ngày 27-12-2005, mang tên Anh Nguyễn Quang C và Chị Phạ Thị Thanh H; trị giá là: 1.100.000.000 đồng. Và Anh C được sở h u các c ng trình y dựng gắn liền trên th a đất số 206 gồ : 01 ng i nhà 2 tầng, trị giá là: 121.710.000 đồng; 01 c ng trình phụ ái bằng (gồ có bếp, nhà tắ , nhà vệ sinh), trị giá là: 5.000.000 đồng; 01 lán, trị giá là: 2.475.000 đồng; 01 bán ái lợp pro i ang, trị giá là: 11.868.000 đồng; 01 gian buồng lợp pro i ang, trị giá là: 4.828.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 1.245.881.000đ.

Buộc Anh C phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho chị H số tiền là: 286.058.350đ.

Chia cho chị H được quản l , s dụng l đất số: A45 thuộc th a đất số 65, tờ bản đồ số 35 diện tích: 100 2; địa ch l đất: Khu d n cư phía na đường vành đai, phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình, t nh Ninh Bình; đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số BE 495281 ngày 15-7-2011, mang tên Anh Nguyễn Quang C và Chị Phạ Thị Thanh H; trị giá là: 300.000.000 đồng.

Chị H được nhận số tiền Anh C thanh toán chênh lệch giá trị tài sản là: 286.058.350đ.

Về c ng nợ: Buộc Anh C phải trả nợ cho NLQ1 số tiền là 100.000.000đ và trả nợ cho NLQ2, NLQ3 số tiền là 100.000.000đ.

Ngoài ra, án sơ th c n quyết định việc nu i dưỡng con chung, án phí và quyền háng cáo của các đương sự.

Ngày 28-11-2018 chị H kháng cáo cho rằng cấp sơ th chia th a đất 206 cùng các c ng trình y dựng trên đất cho Anh C được hưởng phần giá trị nhiều hơn chị, theo chị chia cho Anh C được hưởng 55% giá trị tài sản c n chị được hưởng 45% giá trị tài sản.

Ngày 17-12-2018 Anh C có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ th . Yêu cầu cấp phúc th giải quyết hủy toàn bộ bản án sơ th số 17/2018/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 11 nă 2018 và quyết định s a ch a bổ sung bản án sơ th số 02/2018/QĐ-SCBA ngày 29-11-2018 của T a án huyện Vụ Bản.

Tại đơn háng cáo bổ sung ngày 24-12-2018 Anh C yêu cầu cấp phúc th

s a bản án sơ th chấp nhận yêu cầu của anh như sau: C ng nhận quyền sở h u th a đất 206 tờ bản đồ số 2 diện tích 100 2 có địa ch : Th n B, ã Q, huyện V, t nh Na Định đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE212354 ngày 27-12-2005 và toàn bộ tài sản trên đất là tài sản riêng của anh trước thời ỳ h n nh n và giao cho anh toàn quyền sở h u. C ng nhận 200.000.000đ bao gồ 100.000.000đ vay ngày 28-6-2011 của vợ chồng NLQ2 và NLQ3 và hoản nợ 100.000.000đ vay của NLQ1 là hoản nợ chung của vợ chồng và buộc chị H phải thanh toán ột n a số tiền trên tương đương với 100.000.000đ. Tính lại án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên t a phúc th , chị H gi nguyên đơn háng cáo và trình bày: Th a đất 206 và các c ng trình y dựng trên đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất đứng tên chị và Anh C. Tuy nhiên, th a đất và nhà hai tầng, c ng trình phụ là của Anh C có trước hi ết h n, c n 01 lán ở trước c a ng i nhà hai tầng, 01 gian buồng bán ái lợp pro i ang ở phía sau ng i nhà, 01 bán ái lợp pro i ang ở phía sau ng i nhà là do chị và Anh C y dựng sau hi đã ết h n. Th a đất l A 45 tại thành phố Ninh Bình là tài sản chung của vợ chồng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất đứng tên chị và Anh C. Nguồn tiền để ua đất do vợ chồng tiết iệ được, Anh C hai ua l đất có vay của NLQ1 100.000.000đ và vay NLQ2, NLQ3 100.000.000đ nhưng chị h ng biết và h ng giấy biên nhận, nên hoản nợ này h ng phải là nợ chung vợ chồng. Đề nghị Hội đồng t

e

t giải quyết để bảo đả quyền lợi cho chị.

Anh C gi nguyên đơn háng cáo và trình bày: Anh ác định th a đất 206 là tài sản chung của gia đình anh, do bố ẹ anh bán đất trong làng và anh e tập trung ua đất là nhà và thờ tổ tiên, do các anh e ở a nên ủy quyền cho anh đứng tên th a đất được thể hiện tại biên bản họp gia đình ngày 18-10-1998. Khi làm thủ tục cấp sổ đỏ th a 206 anh h ng nộp biên bản họp gia đình ngày 18-10-1998 và ã nói ê hai cả tên chị H, cũng h ng ảnh hưởng đến quyền lợi của anh. Nên sổ đỏ đã có tên chị H. Về l đất A45 tại thành phố Ninh Bình, anh ác định là tài sản chung của vợ chồng, nhưng nguồn tiền để ua đất do anh vay của NLQ1 100.000.000đ và vay của vợ chồng NLQ2, NLQ3 là 100.000.000đ. NLQ1 là anh rể, còn NLQ2 là anh trai và NLQ3 là chị d u. Khi vay có giấy biên nhận nhưng h ng có ch

của chị H, hi anh nhận tiền cũng h ng có ặt chị H, số tiền anh vay để ua l đất là tài sản chung của vợ chồng, nên hoản nợ này là nợ chung, đề nghị Hội đồng t buộc chị H phải có trách nhiệ trả nợ chung cùng anh.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của Anh C trình bày: Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ th giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ th giải quyết với l do: Cấp sơ th đã vi phạ nghiê trọng thủ tục tố tụng là h ng đưa ng Sang và các con ng Sang tha gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tại cấp sơ th , Anh C đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền s đất cấp ngày 27-12-2005 mang tên Anh C và chị H nhưng cấp sơ th

h ng thụ l giải quyết. Trường hợp h ng hủy bản án sơ th đề nghị HĐXX s a bản án sơ th cụ thể là: Hủy sổ đỏ cấp nă 2005 mang tên Anh C, chị H. Xác định th a đất 206 h ng phải là tài sản chung của Anh C, chị H. C ng nhận hoản nợ 200 triệu đồng là nợ chung của Anh C, chị H. Đề nghị đ i chia l đất A45 tại thành phố Ninh Bình. Từ đó bác yêu cầu háng cáo của chị H và chấp nhận háng cáo của Anh C.

NLQ1 trình bày: NLQ1à anh rể của Anh C, nă 2011 Anh C ua đất trong Ninh Bình, do thiếu tiền đã vay của anh 100.000.000đ có giấy biên nhận nhưng h ng có ch

của chị H, hi giao tiền h ng có ặt chị H. Nay Anh C, chị H ly h n anh đề nghị Anh C và chị H phải có trách nhiệ trả nợ cho anh.

NLQ2 trình bày: NLQ1à anh trai của Anh C, còn NLQ3 là vợ của anh và là chị d u của Anh C. Nă 2011 Anh C ua đất trong Ninh Bình do thiếu tiền, Anh C vay của vợ chồng anh 100.000.000đ có viết giấy biên nhận nhưng h ng có ch

của chị H, khi giao tiền h ng có ặt chị H. Nay Anh C, chị H ly hôn anh đề nghị Anh C và chị H phải có trách nhiệ trả nợ cho vợ chồng anh.

Kiể sát viên - Viện iể sát t nh Na Định phát biểu iến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc th , Th phán và Hội đồng t đã tu n theo các quy định pháp luật tố tụng d n sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định Bộ luật tố tụng d n sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đả .

Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền s dụng đất cấp ngày 27-12-2005 mang tên Anh C và chị H nên ác định nhà đất tại th a 206 là tài sản chung của vợ chồng Anh C, chị H. Tuy nhiên, khi phân chia tài sản, cần e

t nhà hai tầng và c ng trình phụ và đất là của Anh C có trước h n nhân, còn 01 lán ở trước c a ng i nhà hai tầng, 01 gian buồng bán ái lợp pro i ang ở phía sau ng i nhà, 01 bán ái lợp pro i ang ở phía sau ng i nhà sau hi ết h n vợ chồng cùng y dựng. Do vậy, cấp sơ th chia tài sản là th a đất 206 và các c ng trình y đựng trên đất cho Anh C, chị H là phù hợp. Đối với l đất A45 theo giấy chứng nhận quyền s dụng đất cấp ngày 15-7-2011 mang tên Anh C và chị H nên là tài sản chung của vợ chồng. Nguồn tiền ua l đất A45 theo Anh C hai vay của NLQ1 100.000.000đ và vay của vợ chồng NLQ2, NLQ3 100.000.000đ có viết giấy biên nhận nhưng h ng có ch

của chị H, hi giao tiền h ng có ặt chị H, nay chị H không thừa nhận hai hoản nợ này nên h ng có căn cứ ác định là nợ chung vợ chồng. Về án phí giá ngạch chia tài sản cấp sơ th đã tính đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, kh ng có căn cứ chấp nhận háng cáo của chị H và háng cáo của Anh C, đề nghị Hội đồng t áp dụng hoản 1 Điều 308 BLTTDS gi nguyên bản án sơ th .

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được e t tại phiên toà, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng t xét, xét thấy:

X t háng cáo của Anh C cho rằng th a đất số 206 là tài sản chung của gia đình Anh C: Hội đồng t thấy, th a đất 206 và các tài sản y dựng trên đất gồ nhà hai tầng và c ng trình phụ gồ bếp, nhà tắ , nhà vệ sinh là tài sản của Anh C có trước hi ết h n. Sau khi, ết h n Anh C và chị H đã cùng nhau sinh sống và là ăn ổn định tại th a đất số 206 đã y dựng thê được các c ng trình trên đất gồ : 01 lán ở trước c a ng i nhà hai tầng, 01 gian buồng bán ái lợp pro i ang ở phía sau ng i nhà, 01 bán ái lợp pro i ang ở phía sau ng i nhà và anh chị không có văn bản thỏa thuận nào ác định các tài sản vợ chồng y dựng thê là tài sản riêng của Anh C.

Trong thời gian vợ chồng chung sống ngày 10-9-2005 Anh C là đơn đăng quyền s dụng th a đất số 206 và tự nguyện kê khai tên cả hai vợ chồng vào đơn đăng quyền s dụng đất th a số 206. Biên bản họp gia đình ngày 18-10-1998 do Anh C uất trình h ng được chứng thực của cấp có th quyền, ch do anh e và bố ẹ trong gia đình viết tay với nhau và quá trình là thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất nă 2005 đối với th a đất 206, Anh C h ng uất trình biên bản họp gia đình ngày 18-10-1998. Vì vậy, ngày 27-12-2005, UBND huyện V đã cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 ang tên người s dụng đất là Anh Nguyễn Quang C và Chị Phạ Thị Thanh H đúng pháp luật. Như vậy, Anh C đã tự nguyện nhập th a đất số 206 cùng các c ng trình y dựng trên đất có trước hi ết h n vào là tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy, có căn cứ ác định th a đất số 206, tờ bản đồ số 2, diện tích 100m2 cùng toàn bộ các c ng trình y dựng trên th a đất là tài sản chung của chị H và Anh C. Kháng cáo của Anh C cho rằng th a đất 206 và các công trình y dựng trên đất là tài sản của gia đình Anh C là h ng có căn cứ chấp nhận.

Tại cấp phúc th , anh Nguyễn Quang Nhuận là anh trai Anh C có đơn yêu cầu đề ngày 17-5-2019, đề nghị T a án c ng nhận th a đất số 206 tài sản chung của gia đình anh h ng có căn cứ chấp nhận.

X t háng cáo của chị H cho rằng cấp sơ th chia giá trị tài sản th a đất 206 cho Anh C nhiều hơn chị, theo chị ch chia cho Anh C là 55% giá trị và chia cho chị là 45% giá trị: Hội đồng t thấy, nguồn gốc th a đất 206 và các c ng trình trên đất chủ yếu là của Anh C có trước hi ết h n, sau hi ết h n vợ chồng có y dựng 01 lán ở trước c a ng i nhà hai tầng, 01 gian buồng bán ái lợp pro i ang ở phía sau ng i nhà, 01 bán ái lợp pro i ang ở phía sau ngôi nhà gian buồng bán ái. Do vậy, cấp sơ th chia giá trị tài sản cho Anh C được hưởng 65% là phù hợp, nên háng cáo của chị H h ng được chấp nhận.

Nă 2011 Anh C, chị H nhận chuyển nhượng l đất A45 tại thành phố Ninh Bình, t nh Ninh Bình, anh chị đều ác định là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, về tài sản chung là bất động sản của Anh C, chị H có 2 th a đất gồ th a 206 tại ã Quang Trung, huyện Vụ Bản và th a đất A45 tại thành phố Ninh Bình. Cấp sơ th đã e

t đến nguồn gốc từng th a đất, chia cho Anh C được quyền s dụng th a đất 206 và chị H được quyền s dụng th a đất A45 là phù hợp. Do vậy, h ng có căn cứ chấp nhận lời trình bày của Luật sư chia đ i th a đất A45.

Xét kháng cáo về các hoản nợ: Nguồn tiền để ua l đất A45 theo Anh C khai, Anh C đã vay của anh rể là NLQ1ưỡng 100.000.000đ và vay của vợ chồng anh trai là Hoàng Văn Hiệp và chị d u là Nguyễn Thị Thu là 100 triệu đồng đều có giấy biên nhận ghi ngày 28-6-2011. Theo chị H hai số tiền Anh C vay của NLQ1 và vay vợ chồng NLQ2 để ua l đất A45 h ng phải là nợ chung của vợ chồng, vì chị h ng biết về số tiền nợ này và h ng biết Anh C vay tiền để là gì, chị h ng vào giấy biên nhận vay số tiền như Anh C khai. Việc ua l đất A45 là tiền chung của vợ chồng h ng vay ượn của ai. X t thấy, Anh C vay của NLQ1 100.000.000đ và vay của vợ chồng NLQ2, NLQ3 100.000.000đ đều có giấy biên nhận, nhưng h ng có ch

của chị H, việc giao nhận tiền h ng có ặt chị H, nay chị H h ng thừa nhận số tiền Anh C đã vay. Vì vậy, cấp sơ th

ác định hoản nợ 200.000.000đ là nợ riêng của Anh C là có căn cứ, nên h ng chấp nhận háng cáo của Anh C về hoản nợ này.

Theo quyết định đưa vụ án ra t phúc th ngày 03-5-2019 đã đưa anh Nguyễn Quang Loan và anh Nguyễn Quang Hồng tha gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, quá trình giải quyết vụ án chị H đã có đơn rút h ng yêu cầu giải quyết hoản tiền 350.000.000đ liên quan đến NLQ1oan và anh Hồng, nên Hội đồng t

ác định NLQ1oan và anh Hồng h ng tha gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Xét kháng cáo về án phí: Do Anh C được giao tài sản chung có trị giá là 1.245.881.000đ nhưng phải thanh toán chêch lệch cho chị H là 286.058.350đ, nên tài sản Anh C được chia trị giá là 1.245.881.000đ - 286.058.350đ = 959.822.650đ. Án phí giá ngạch chia tài sản Anh C phải chịu là 36.000.000đ + (3% 159.822.650đ) = 40.794.679đ. Anh C c n phải chịu án phí về nghĩa vụ tài sản đối với hoản tiền 200.000.000đ trả cho NLQ1 và NLQ2, NLQ3, nên Anh C phải nộp án phí là 200.000.000đ 5% = 10.000.000đ.

Do chị H được chia tài sản chung là 300.000.000đ và chị H được nhận chênh lệch tài sản từ Anh C là 286.058.350đ, tổng tài sản chị H được chia trị giá là 300.000.000đ + 286.058.350đ = 586.058.350đ. Án phí giá ngạch chia tài sản chị H phải chịu là 20.000.000đ + (4% x 186.058.350đ) = 27.442.321đ.

Như vậy, án phí giá ngạch chia tài sản cấp sơ th đã tính đúng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn giả , thu, nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí T a án. Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay không còn lưu th ng tiền Việt Na ệnh giá 200đ và ệnh giá 100đ, để thuận lợi cho việc thi hành án, Hội đồng t là tr n số tiền các đương sự phải nộp án phí giá ngạch chia tài sản đối với Anh C được là tr n là 40.794.000đ, đối với chị H án phí giá ngạch chia tài sản được là tr n là 27.442.000đ. Và số tiền Anh C phải thanh toán chênh lệch cho chị H được là tr n là 286.058.000đ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của Anh C cho rằng cấp sơ th

h ng thụ l yêu cầu hởi iện của Anh C đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền s dụng th a đất 206 mang tên Anh C, chị H. X t thấy, quá trình giải quyết vụ án cấp sơ th đã yêu cầu Anh C s a đổi, bổ sung đơn hởi iện theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật tố tụng hành chính, nhưng Anh C h ng s a đổi, bổ sung và cấp sơ th đã trả lại đơn hởi iện là phù hợp với quy định tại Điều 123 Bộ luật tố tụng hành chính. Sau hi, cấp sơ th trả lại đơn hởi iện Anh C đã có đơn đề nghị UBND huyện V thu hồi giấy chứng nhận quyền s dụng đất th a 206 cấp ngày 27-12-2005 và UBND huyện V có c ng văn 319/UBND-TNMT ngày 04-7-2018 trả lời Anh C việc cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 ngày 27-12-2005 cho th a đất 206 là đúng quy định pháp luật. Và từ đó Anh C không hởi iện hủy giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 ngày 27-12-2005. Do vậy, cấp sơ th

h ng thụ l giải quyết là có căn cứ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của Anh C cho rằng cấp sơ th

h ng đưa ng Sang và các con ng Sang tha gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. X t thấy, như ph n tích tại phần trên giấy chứng nhận quyền s dụng đất ngày 27-12-2005 mang tên Anh C, chị H và Anh C đã tự nguyện nhập vào tài sản chung của vợ chồng, do vậy cấp sơ th h ng đưa ng Sang là bố đẻ Anh C và các con ng Sang tha gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.

Từ nh ng ph n tích trên, Hội đồng t thấy h ng có căn cứ chấp nhận háng cáo của chị H và Anh C, nên gi nguyên án sơ th .

Do gi nguyên án sơ th các đương sự háng cáo phải nộp án phí d n sự phúc th .

Các quyết định hác của bản án sơ th

h ng có háng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị cấp phúc th

h ng e

t giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng d n sự, Điều 56, 81, 82, 83, 33, 34, 38, 39, 43, 46 Luật h n nh n và gia đình nă 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn giả , thu, nộp, quản l , s dụng án phí và lệ phí T a án.

Kh ng chấp nhận háng cáo của Chị Phạ Thị Thanh H và háng cáo của Anh Nguyễn Quang C. Gi nguyên án sơ th và quyết định s a ch a bổ sung bản án sơ th số 02/2018/QĐ-SCBA ngày 29-11-2018 của T a án nh n d n huyện Vụ Bản, t nh Na Định.

1. Về h n nh n: X cho ly h n gi a Chị Phạ Thị Thanh H và Anh Nguyễn Quang C.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hương Q, sinh ngày 15-02-2009 cho Chị Phạ Thị Thanh H nu i dưỡng cho đến hi cháu Q trưởng thành, có hả năng lao động tự lập được. Giao cháu Nguyễn Quang L, sinh ngày 27-6-2003 cho Anh Nguyễn Quang C nu i dưỡng cho đến hi cháu L trưởng thành, có hả năng lao động tự lập được. Chị H và Anh C h ng phải cấp dưỡng nu i con chung cho nhau.

Người h ng trực tiếp nu i con có quyền, nghĩa vụ thă no con mà h ng ai được cản trở, nhưng h ng được lạ dụng việc thă no để cản trở hoặc g y ảnh hưởng ấu đến việc tr ng no , chă sóc, nu i dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nu i con.

3. Về chia tài sản:

Chia cho Anh C được quyền s dụng th a đất số 206, tờ bản đồ số 2, diện tích 100m2; địa ch của th a đất: Th n B, ã Q, huyện V, t nh Na Định đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số AE 212354 ngày 27-12-2005 mang tên Anh Nguyễn Quang C và Chị Phạ Thị Thanh H trị giá là 1.100.000.000đ; có vị trí phía Đ ng giáp th a đất hộ ng Mai Văn U n dài 19,67m; phía T y giáp th a đất hộ ng Phạ C ng Bưu dài 19,66 ; phía Nam giáp rãnh thoát nước dài 5,16 ; phía Bắc giáp đường Quốc lộ 38B dài 05 . Và Anh C được sở h u các c ng trình y dựng trên th a đất số 206 gồm: 01 ngôi nhà 2 tầng, trị giá 121.710.000đ; 01 c ng trình phụ ái bằng (gồ có bếp, nhà tắ , nhà vệ sinh), trị giá 5.000.000đ; 01 lán, trị giá 2.475.000đ; 01 bán ái lợp pro i ang, trị giá 11.868.000đ; 01 gian buồng lợp pro i ang, trị giá 4.828.000đ. Tổng giá trị tài sản là 1.245.881.000đ.

Buộc Anh C phải có trách nhiệ thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho chị H số tiền là 286.058.000đ.

Chia cho chị H được quyền s dụng l đất số A45 thuộc th a đất số 65, tờ bản đồ số 35 diện tích 100m2; địa ch l đất: Khu d n cư phía Na đường vành đai, phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình, t nh Ninh Bình đã được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất số BE 495281 ngày 15-7-2011 mang tên Anh Nguyễn Quang C và Chị Phạ Thị Thanh H trị giá 300.000.000đ; có vị trí phía Đ ng giáp với l đất A44 dài 20 ; phía T y giáp với l đất A46 dài 20m; phía Na tiếp giáp với đường dài 05m; phía Bắc tiếp giáp l đất A12 dài 05 .

Chị H được nhận số tiền Anh C thanh toán chênh lệch giá trị tài sản là 286.058.000đ.

Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có th quyền để ch nh l giấy chứng nhận quyền s dụng đất theo quyết định của bản án.

4. Về c ng nợ: Buộc Anh C phải trả nợ cho NLQ1 số tiền là 100.000.000đ và trả nợ cho NLQ2, NLQ3 số tiền là 100.000.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các hoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo ức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự 2015.

5. Về án phí d n sự sơ th :

Án phí ly hôn sơ th : Chị Phạ Thị Thanh H phải nộp là 300.000đ nhưng được đối trừ với số tiền tạ ứng án phí ly h n sơ th chị H đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 09592 ngày 12-6-2017 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Vụ Bản. Chị H đã nộp đủ án phí ly h n sơ th .

Án phí giá ngạch chia tài sản: Chị H phải nộp là 27.442.000đ nhưng được đối trừ với số tiền 31.000.000đ, chị H đã nộp tạ ứng án phí giá ngạch chia chia tài sản tại biên lai thu tiền số 09572 ngày 09-5-2017 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Vụ Bản. Hoàn lại cho chị H số tiền 3.558.000đ.

Án phí giá giá ngạch chia tài sản: Anh C phải nộp là 40.794.000đ và Anh C phải nộp án phí nghĩa vụ về tài sản là 10.000.000đ.

Án phí d n sự phúc th : Chị H và Anh C ỗi người phải nộp là 300.000đ nhưng được đối trừ với số tiền chị H và Anh C ỗi người đã nộp tạ ứng án phí d n sự phúc th là 300.000đ theo biên lai số 09868 ngày 07-12-2018 và biên lai số 09876 ngày 21-12-2018 của Chi cục thi hành án d n sự huyện Vụ Bản. Chị H và Anh C đã nộp đủ án phí d n sự phúc th .

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.

Bản án phúc th có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ